Thụy Khuê

Phê bình văn học thế kỷ XX

 

Chương 9: Phê bình bác ngữ học Đức

 

Khoảng 1915, một số nhà bác ngữ học người Đức chủ trương khảo sát văn chương Âu Châu như một khối văn học toàn diện có nguồn gốc tiếng La-tinh, không phân chia ranh giới quốc gia, từ thời La-Hy đến ngày nay. Đó là trường phái Bác ngữ học Rô-man (Philologie romane) hay là Bác ngữ học những tiếng có nguồn gốc La-tinh, quy tụ một số nhà nghiên cứu tên tuổi có kiến thức bách khoa, hoạt động trong lòng các đại học Đức như: Friedrich Gundolf (1881-1931), Ernst-Robert Curtius (1886-1956), Leo Spitzer (1887-1960) và Erich Auerbach (1892-1957).

Phát triển cùng thời với trường phái Hình thức Nga, trường phái Bác ngữ học Rô-man của Đức có tầm quan trọng tương đương trong địa vị nền tảng của phê bình hiện đại.

Chúng tôi dành ba chương sắp tới cho phê bình Bác ngữ học Đức:

Chương 9: Những vấn đề tổng quát- Gundolf và Curtius.

Chương 10: Leo Spitzer.

Chương 11: Erich Auerbach.

 

 

I- Tổng quát

 

Đôi dòng lịch sử về Bác ngữ học

 

Trong chương 5 về Ngôn ngữ học, chúng tôi đã trình bày tiến trình lịch sử của Ngôn ngữ học và Bác ngữ học; ở đây xin sơ luợc nhắc lại ý của Saussure. Theo ông, khoa học khảo sát tiếng nói trải qua ba giai đoạn:

1 - Thời kỳ 1, bắt đầu bằng khoa Văn phạm, do người Hy Lạp chủ xướng và người Pháp tiếp nối. Khoa Văn phạm dựa trên nền luận lý học, đưa ra những quy tắc văn phạm, chỉ ra cách viết đúng viết sai, kết quả hạn hẹp.

2 - Thời kỳ 2, xuất hiện khoa Bác ngữ học (philologie) do Friedrich August Wolf chủ xướng (khoảng 1777)[1]. Môn học này có đối tượng rộng hơn ngôn ngữ học: không chỉ quan tâm đến tiếng nói mà còn muốn giải thích và phê bình văn bản để đạt tới lịch sử văn học, văn hoá, thể chế, vv... Bác ngữ học dùng phê bình làm phương pháp.

3 - Thời kỳ 3, bắt đầu từ khi người ta thấy có thể so sánh những tiếng nói với nhau. Năm 1816, Franz Bopp, nhận thấy tiếng Phạn có họ hàng với một số thổ âm ở châu Âu (điều này đã được nhà Đông phương học người Anh, W. Jones tìm ra trước đó), đặc biệt: tiếng Phạn là nguồn gốc của tiếng Hy Lạp và La tinh. Tiếng La tinh lại là nguồn gốc của nhiều thứ tiếng khác ở Âu châu. Sự kiện họ hàng này dẫn đến sự cần thiết một nền khoa học mà so sánh là phương pháp chủ yếu, vì thế Bác ngữ học so sánh ra đời.

Tóm lại, Saussure đã xác định một số điểm:

- Mối liên hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ học và bác ngữ học.

- Ngôn ngữ học có đối tượng là tiếng nóibác ngữ học có đối tượng là văn bản.

- Bác ngữ học, từ nguồn cội, là một phương pháp phê bình văn bản.

- Sự khảo sát tiếng nói và văn bản cần đến sự "soi sáng một thứ tiếng bằng một thứ tiếng khác, giải thích hình thức của một thứ tiếng bằng một thứ tiếng khác", vì vậy, phương pháp so sánh trở thành một trong những phương pháp cốt yếu của phê bình văn học.

 

Saussure ghi tên những tác giả xây dựng nền Bác ngữ học, đều là người Đức, trong số đó có:

- Jacob Grimn (1785-1863) và bộ sách Văn phạm Nhật Nhĩ Man (Deutsche grammatik) (1822), được coi là người tiên phong xây dựng nền móng Bác ngữ học.

- Franz Bopp (1791-1867) với tác phẩm đồ sộ Văn phạm so sánh những tiếng Ấn-Âu (Grammaire comparée des langues Indo-Européennes) (1833-1852) được coi là cha đẻ của Ngữ học so sánh.

- Max Muller (1823-1900), học trò của Bopp, cổ động cho phương pháp so sánh trong cuốn Những bài học về khoa ngôn ngữ (Leçons sur la science du langage) (1861).

- Georg Curtius (1820-1885), thày của Saussure, tác giả cuốn Những nguyên tắc từ nguyên Hy-Lạp (Principes d'étymologie grecque) (1879) đã hoà hợp Văn phạm so sánh với Bác ngữ học cổ điển.

- August Schleicher (1821-1862), với cuốn Yếu lược văn phạm so sánh những tiếng Ấn-Nhật Nhĩ Man (Abrégé de grammaire comparée des langues Indo-Germaniques) (1861), phản ánh diện mạo của bác ngữ học so sánh trong giai đoạn đầu của nền ngữ học Ấn-Âu.

Vậy khuynh hướng nghiên cứu những tiếng Ấn-Âu, có thể coi là "trường phái phê bình văn học hiện đại đầu tiên" xuất hiện từ giũa thế kỷ XIX, đã dùng phương pháp so sánh để nghiên cứu ngôn ngữ.

Nhưng theo Saussure, trường phái so sánh chỉ giới hạn sự nghiên cứu trong những tiếng Ấn-Âu, là những tiếng thời thượng cổ, quá xa vời, không đưa đến những kết quả thực tiễn cho nền văn học Âu Châu, thoát thai từ tiếng La-tinh, gần với chúng ta hơn. Do đó, cần phải có một nền bác ngữ học so sánh mới, khảo sát những nền văn học phát xuất từ ngữ tự La-tinh.

Đầu thế kỷ XX, trường phái bác ngữ học Rô-man đã đáp ứng đúng những đòi hỏi này.

 

 

Trường phái Bác ngữ học Rô-man

 

Như trên đã nói, nhóm Bác ngữ học Rô-man gồm những nhà bác ngữ học khảo sát những thứ tiếng có nguồn gốc La-tinh, bắt đầu hoạt động khoảng năm 1915; nhưng khi Hitler lên cầm quyền, họ cũng chịu chung số phận như những nhà hình thức Nga dưới thời Stalin: Một số nhà bác ngữ học Đức cũng phải sống lưu vong. Từ 1933, khi chủ nghĩa Đức Quốc Xã phát triển, Spitzer và Auerbach phải trốn ra ngoại quốc, viết những tác phẩm chủ yếu ở nước ngoài. Chống lại chính sách dân tộc cực đoan của Hitler, họ muốn xây dựng một Âu Châu đoàn kết toàn diện trong tương quan liên đới và phổ quát của ngôn ngữ văn chương.

Khi chính quyền Đức Quốc Xã chủ trương xâm chiếm các nước láng giềng, đặc biệt nước Pháp, thì các nhà phê bình Đức đem văn học Pháp ra làm đối tượng nghiên cứu ưu tiên. Tinh thần đoàn kết Âu Châu mà họ mở ra từ đầu thế kỷ XX, trước hai thế chiến, sẽ được Âu Châu, sau hai thế chiến, hưởng ứng triệt để.

Đại chiến thứ hai chấm dứt, mọi người dường như đã nhìn ra và chấp nhận nguyên tắc xây dựng một Âu Châu toàn khối trong tình đoàn kết để phát triển. Có thể nói: tinh thần Âu Châu văn học là một khối "thịnh vượng chung" đã được các nhà phê bình trong nhóm Bác ngữ học Rô-Man phát triển trước, Âu Châu kinh tế và Âu Châu chính trị đến sau. "Cộng đồng Âu Châu" với đồng tiền Euro hợp nhất ngày nay, là hoa trái của một quan niệm khởi đi từ đầu thế kỷ XX, do các nhà phê bình Đức đề ra, để khảo sát văn bản và ngôn ngữ các dân tộc Âu Châu như một toàn thể hợp nhất, sinh ra từ tiếng mẹ La-tinh.

Về mặt phương pháp, điểm khác biệt cơ bản giữa trường phái Nga và trường phái Đức là nếu những nhà hình thức Nga chuyên về khảo sát văn bản và không mấy chú ý đến tác giả, thì những nhà bác ngữ học Đức đi từ văn bản để tìm hiểu tác giả, tìm hiểu xã hội và thời đại lịch sử mà tác giả đã sống.

Vậy ta cần phải xác định một lần nữa: bác ngữ học Rô-man là gì?

Bác ngữ học Rô-man là khoa nghiên cứu những ngôn ngữ có nguồn gốc La-tinh, một khoa nghiên cứu văn bản bao gồm: việc phê bình và tìm hiểu nguồn cội chữ, lịch sử chữ, và mối tương quan của văn bản ấy đối với toàn bộ nền văn minh đang được khảo sát. Một chủ trương khảo sát toàn diện nền văn học (Âu Châu) như vậy, giải quyết nhiều vấn đề trong nghiên cứu và rọi những ánh sáng mới cho phê bình.

Khái niệm văn học so sánh (littérature comparée) liên văn bản (intertextualité) (tức là tìm mối liên lạc "dòng giống" giữa những tiếng nói, những họ tộc ngôn ngữ, những văn bản và biến thể của nó từ đời nọ sang đời kia và so sánh chúng với nhau), sau này được người ta đề cao và coi như một phương pháp nghiên cứu văn bản mới, thực ra đã xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX và là phương pháp của những nhà bác ngữ học Đức, khi họ nghiên cứu ngôn ngữ Ấn Âu.

Nhưng phải đến giữa thế kỷ XX, nhờ sự quảng bá của trường phái bác ngữ học Rô-man, như một lý thuyết hợp nhất toàn bộ văn chương Âu châu, đặc biệt của Curtius trong cuốn Văn chương Âu Châu và thời Trung Cổ La-tinh (1948) và sự thực hành cụ thể phương pháp so sánhliên văn bản, tuy không nói tên, trong phê bình của Auerbach, với cuốn Mimésis (1946) mà người đọc thấy rõ lợi thế của việc so sánhkết hợp các mối liên hệ giữa các văn bản xuất hiện ở các nơi, các thời khác nhau, nhưng cùng có chung một nguồn gốc văn minh.

Một mặt khác, nhân chủng học cấu trúc của Lévi-Strauss cũng chứng minh rằng: điều quan trọng là xây dựng các liên hệ nối kết chủng tộc, con người, ngôn ngữ... và khi tìm ra được các mối liên hệ là chúng ta đã giải quyết được phần lớn của vấn đề.

Nói cách khác: chúng ta không ở trên trời rơi xuống, và cũng không ai tự sáng tác ra tất cả những điều mình viết. Những điều chúng ta biết và viết, phát xuất từ một nguồn gốc nào đó, và chính cái nguồn gốc ấy đã trợ giúp cho chúng ta nẩy sinh ra các tư tưởng mới. Ví dụ, nếu không có Homère, thì khó có thể có một nền văn chương Âu Châu cường thịnh và vô tận, rút ra từ những truyền thuyết trong OdysséeIliade, do Homère kể lại. Nhưng Homère cũng lại khởi đi từ những truyền thuyết mẹ, mà ông đã học được của người đi trước, vv...

Vậy sự khảo sát những sợi dây chuyền trong tư tưởng nhân loại là đối tượng của khoa liên văn bản khởi đi từ những nhà bác ngữ học Đức, giữa thế kỷ XIX, khi họ kháo sát ngôn ngữ Ấn-Âu. Đến giữa thế kỷ XX, trường phái bác ngữ học Rô-man, tiếp tục phát triển khái niệm này giữa những tiếng nói ở Âu Châu, ứng dụng vào việc khảo sát văn chương Rô-man, đặc biệt Auerbach thực hiện trong phê bình một cách hệ thống, nhưng không nêu tên và Leo Spitzer, cũng truy lùng nguồn cội của một chữ để tìm ra ý nghiã sâu xa của nó trong văn bản.

Ngày nay, nhiều người coi liên văn bản, như một "khám phá mới", là sản phẩm của nhóm Tel Quel ở Pháp thời kỳ 1960-1980 và Julia Kristeva được tôn lên địa vị "khai sáng" liên văn bản.

Sở dĩ có sự hiểu lầm này vì người ta không biết rõ lịch sử phê bình văn học. 

Xin nhắc lại một lần nữa: khái niệm liên văn bản đã được các nhà bác ngữ học Đức: Franz Bopp, Max Muller, Georg Curtius, August Schleicher..., dùng từ giữa thế kỷ XIX, khi họ nghiên cứu văn phạm so sánh Ấn-Âu.

Sang thế kỷ XX, ba nhà phê bình lớn của Đức đều sử dụng phương pháp so sánhliên văn bản, tuy không gọi rõ tên: Ernst-Robert Curtius đã dùng phương pháp này để khảo sát và nối kết các thứ tiếng Âu châu thành toàn bộ, như một thực thể nhất quán. Spitzer sử dụng trong phê bình để so sánh và phân tích một chữ, một câu. Auerbach dùng nó để phân tích và so sánh những văn bản cách xa nhau nhiều thế kỷ, Bakhtin cũng dùng đến phương pháp này khi ông phê bình Rabelais. Năm 1982, Gérard Genette, một nhà phê bình trẻ của Pháp, lấy lại và phát triển khái niệm liên văn bản thành lý thuyết văn học trong cuốn Palimpsestes (Nguyên cảo).

 

 

Gérard Genette phát triển lý thuyết Liên văn bản

 

Trong số các nhà phê bình lớp sau, Gérard Genette (sinh năm 1930), môn đệ của Roland Barthes, là người đã khai triển khái niệm Liên văn bản (L'intertextualité) thành lý thuyết văn học trong cuốn Nguyên cảo (Palimpsestes)[2]. Chữ Palimpseste có nghiã là: "Nguyên cảo viết trên tấm da đã chùi chữ cũ để viết chữ mới". Genette đã dùng hình ảnh này để tượng trưng quan điểm: theo ông, tác phẩm nào cũng được "viết đi viết lại", tức là người đi sau chỉ viết lại những gì người đi trước đã viết, trong một ngôn ngữ mới, và đó là đối tượng nghiên cứu của ngành Liên văn bản học.

Trong Nguyên cảo, Genette tiếp tục phát triển phương pháp mà trường phái bác ngữ học Đức đã khám phá và sử dụng, được ông đặt tên là Xuyên văn bản (Transtextualité); thuật ngữ mới này dùng để chỉ tất cả những mối liên hệ giữa một văn bản với các văn bản khác. Gérard Genette liệt kê 5 loại liên hệ:

- Liên văn bản (L'intertextualité): là sự hiện diện một văn bản trong một văn bản khác.

- Cận văn bản (La paratextualité): là mối liên hệ giữa văn bản đang khảo sát với những yếu tố phụ thuộc như: tên sách, bài tựa, chú thích, lời đề ở đầu sách, tranh ảnh đi kèm...

- Siêu văn bản (La métatextualité) hay văn bản của văn bản: là sự phê bình văn bản bằng một văn bản khác.

- Kiến trúc văn bản (L'architextualité): gồm toàn bộ yếu tố xác định chủ đề, hình thái, phương thức, liên quan đến thể loại của văn bản. Kiến trúc văn bản lấy từ khái niệm kiến trúc chủ âm (formes architectoniques) của Bakhtin. Theo Genette, kiến trúc văn bản là đối tượng cố hữu của thi pháp học.

- Khuếch trương văn bản (L'hypertextualité): chỉ tất cả những liên hệ nối liền giữa văn bản A, sinh sau, được gọi là hậu bản (hypertexte) với văn bản B xuất hiện trước nó, được gọi là tiền bản (hypotexte): Ví dụ: tác phẩm Ulysse của Joyce phải chăng là "hậu bản" của "tiền bản" Odyssée của Homère? Ta có thể nói: Kiều Nguyễn Du là hậu bản của tiền bản Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, vv...

 

Công dụng của phương pháp so sánhliên văn bản

 

Nếu ở Á Châu có một trường phái nghiên cứu văn học các ngôn ngữ có nguồn gốc chữ Hán, gồm các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam, thì chúng ta sẽ tìm thấy bao nhiêu mối tương quan đặc biệt lý thú: Ví dụ người ta sẽ không mất thì giờ đặt những câu hỏi đại loại: tại sao Nguyễn Du lại "viết lại" truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân? Tại sao những hình tượng trong thơ cổ điển của chúng ta lại mang khí hậu, phong thổ nước Tàu? Bởi nếu nhìn các nền văn học ở Á Châu có nguồn gốc chữ Hán như một toàn khối, ta sẽ thấy việc Nguyễn Du sử dụng truyện Kiều, hoặc dùng các hình tượng văn học Trung Hoa là điều tất yếu vì cùng một gốc văn hóa, giống như người Âu sử dụng các "tích" trong Thánh Kinh, các truyện trong Odyssé, Iliade của Homère.

Sự trùng hợp này là hiện tượng liên văn bản, là một thực tế văn học cần khảo sát hơn là chê bai, miệt thị mà một số "học giả" người Tàu đã làm. Mối tương quan văn bản giữa Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân là một đề tài nghiên cứu liên văn bản rất lý thú. Chúng ta không có gì phải "cải chính", cũng không có gì phải mặc cảm, và cũng chẳng cần phải trả lời những câu hỏi mỉa mai của một số ngòi bút "nghiên cứu" Trung Hoa, vì dốt đã hoạnh họe tại sao Nguyễn Du không "sáng tác" cốt truyện mới mà lại "dịch" một cuốn tiểu thuyết tầm thường của Tàu. Thực ra, Nguyễn Du chỉ lấy lại một cốt truyện có sẵn trong văn chương và lịch sử Trung Hoa để hình thành một kiệt tác thi ca bằng tiếng Việt. Ngoài ra, cả văn bản Nguyễn Du lẫn văn bản Thanh Tâm Tài Nhân cũng chỉ là "hậu bản" của một "tiền bản" là truyện Kiều, trong lịch sử Trung Hoa.

Khi nghiên cứu tác phẩm của Murasaki, Kawabata, chúng tôi cũng tìm thấy nhiều hình tượng nghệ thuật giống như trong Trương Chi, Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán của ta. Và đó cũng là điều tất nhiên, bởi tiếng Việt và tiếng Nhật cùng phát xuất từ nguồn chữ Hán.

Tóm lại, sự khảo sát những yếu tố nhất quán của một toàn cảnh văn học cùng một nguồn gốc văn minh, giúp chúng ta mở rộng tầm nhìn ra thế giới bên ngoài. Đó là tinh thần chủ yếu của trường phái bác ngữ học Đức.

 

 

II- Friedrich Gundolf (1880-1931)

 

Là một trong những nhà phê bình bác ngữ học tiên phong, Friedrich Gundolf đã theo ban triết và văn chương ở các đại học Berlin, Heidelberg và Munich. Năm 1911, ông cho xuất bản tác phẩm phê bình quan trọng đầu tiên tựa đề: Shakespeare và tinh thần Đức (Shakespeare et l'esprit allemand). Năm 1916, cho in cuốn Goethe và năm 1924, ra đời cuốn César, lịch sử và huyền thoại (César, histoire et légende). Gundolf là một trong những cây bút cột trụ, đã có ảnh hưởng không những đến giới phê bình Đức mà còn tới cả những nhà phê bình ý thức ở Genève như Marcel Raymond và Georges Poulet.

Gundolf coi tác phẩm thơ như điểm nối kết giữa cuộc đời và tác phẩm của nhà thơ. Theo ông, thơ là tấm gương phản chiếu cuộc đời của thi sĩ, là nguồn cội có thể rút ra tiểu sử cao siêu, đích thực và sâu kín nhất của nhà thơ.

Gundolf đặc biệt chú ý đến tính nhất quán của người sáng tạo xuyên qua các tác phẩm nghệ thuật: nhất quán tinh thần và nhất quán thể xác hiện ra trong tác phẩm vừa như một dòng chảy vừa như một hình thái nghệ thuật. Gundolf cho rằng người nghệ sĩ sống trong một khối cầu khác hẳn người không phải là nghệ sĩ. Những người không phải là nghệ sĩ cứ tưởng là Shakespeare bắt chước thực tại, thực ra "nghệ thuật chẳng bắt chước đời sống mà cũng chẳng phải là trực giác của đời sống; nghệ thuật là một hình thức nguyên khai của đời sống, nó không vay mượn những lệ luật tôn giáo, đạo đức, khoa học nhà nước, hay tất cả những hình thức đầu tiên hay thứ yếu khác."

Theo Gundolf, hiểu Goethe, có nghiã là đã "sống lại toàn thể, trước khi xếp loại những tác phẩm của Goethe" và không thể coi những tác phẩm này như những lời tâm sự của Goethe. Người phê bình là một thứ "sử gia văn hoá", đã có chất liệu, là tư tưởng, là người sáng tác và cuộc đời, thông qua ngôn ngữ của tác giả. Vậy, một "sử gia văn chương có bổn phận phải giải thích bằng lời cái tư tưởng mà Goethe diễn tả bằng hình ảnh". Cho nên, một hình ảnh vô cùng nhỏ của một nhà thơ lớn cũng quý giá như một sinh vật cực nhỏ qua lăng kính của một nhà khoa học lớn.

 

 

III- Ernst-Robert Curtius (1886-1956)

 

Ernst-Robert Curtius là nhà phê bình thực sự khảo sát và đề cao nền văn chương Âu châu có nguồn gốc La-tinh theo phương pháp bác ngữ học. Ông sinh ngày 14/4/1886 tại Thann (thuộc Alsace, Pháp) và mất ngày 19/4/1956, tại Roma; là cháu nội nhà khảo cổ học Ernst Curtius. Ông học về ngôn ngữ và văn chương Rô-Man, trở thành giáo sư, dạy đến năm 1951, tại các đại học: Bonn (1919), Marbourg (1920), Heidelberg (1924) và Bonn (1929).

Thân Pháp và cực lực chống chế độ Đức Quốc Xã, từ năm 1933 đến năm 1945, Curtius không in một cuốn sách nào. Hơn nửa sự nghiệp đồ sộ của ông viết về văn chương Pháp, ông nghiên cứu các tác giả Pháp như: Ferdinand Brunetières, Maurice Barrès, Balzac, Proust, Valéry Larbaud, Charles Du Bos, Aragon, André Gide; phần còn lại dành cho Âu Châu. Curtius chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan bằng nhiều cách: Ông nghiên cứu kỹ càng nền văn chương Pháp; tìm hiểu bối cảnh văn hóa Đức trong lòng văn minh Âu Châu; và đề cao nền văn chương viết bằng tiếng La-tinh thời Trung Cổ.

Nền tảng phương pháp nghiên cứu của Curtius được trình bày trong cuốn Văn chương Âu Châu và thời Trung Cổ La-tinh (La littérature européenne et le Moyen Âge latin) in lần đầu năm 1948[3], trong đó, ông chứng minh rằng: sự nhất quán sâu xa của nền văn minh phương Tây nằm trong tính cách La-tinh, qua sự kiện «tiếng la tinh là ngôn ngữ văn hoá của 13 thế kỷ chia cắt giữa Virgile và Dante».

Tác phẩm có chỗ đứng đặc biệt trong sự nghiệp trước tác đồ sộ của Curtius, gồm 18 tác phẩm, 6 dịch phẩm, trong đó có ba cuốn dịch André Gide và hàng trăm bài viết, không kể 6 tập trao đổi thư từ về văn học là những tài liệu bên lề, xác định đường hướng tư tưởng của nhà bác học này.

Văn chương Âu Châu và thời Trung Cổ La-tinh được coi như một kiệt tác, là một công trình gồm hơn 30 bài, viết rải rác từ 1932 đến 1952, trong điều kiện thiếu tư liệu dưới thời Đức Quốc Xã và chiến tranh thế giới. In năm 1948, Văn chương Âu Châu và thời Trung Cổ La-tinh, là kết quả của gần 20 năm làm việc và tìm kiếm. Tác giả có chủ đích vượt qua biên giới văn chương quốc gia, để tiến tới sự hợp nhất văn chương Âu châu. Theo ông, sự nhất quán này có từ cuối Đế quốc La Mã tới thế kỷ XVI-XVII.

Tóm lại, đối với Curtius, Văn chương Âu Châu phải được coi như một toàn thể nhất quán. Lịch sử văn học thông thường chỉ cho ta cái nhìn liệt kê bề mặt của nền văn chương này. Muốn tìm hiểu sâu xa sự nhất quán này, phải xuyên sâu và tận dụng cả hai phương pháp: bác ngữ học và văn sử học. Nhưng lối khảo sát văn chương như thế, chưa có ở đại học (thời đó) vì thế phải sáng tạo ra.

Điều mà Curtius gọi là lịch sử, không phải là thứ lịch sử Âu Châu mà người ta phân chia từng mảng theo không gian và thời gian. Đối với Curtius, nếu ta coi Âu Châu và văn chương Âu Châu xuất phát từ hai nền văn minh thượng cổ Địa Trung Hải và Tây Phương hiện đại, thì phải chấp nhận rằng: cho tới thời Trung cổ, toàn bộ nền văn chương này được viết bằng chữ La-tinh: và như vậy, về 26 thế kỷ văn chương Âu Châu, từ Homère tới Goethe, người ta chỉ biết độ khoảng 6, 7 thế kỷ; và đã bỏ qua ít nhất khoảng 10 thế kỷ thuộc thời Trung cổ La-tinh. Tuy vậy, theo Curtius, văn chương quá khứ vẫn hiện diện, mặc thời gian chia cắt, vẫn giao thoa với hiện tại: Nghìn lẻ một đêm và Calderon[4] giao tiếp với Hofmannsthal[5]. L'Odyssée truyền tới Joyce, Eschyle, Petron, Dante, Tristan Corbière. Sự huyền bí Tây Ban Nha nhập vào T.S. Eliot. Những cách diễn đạt cũng thế: các thể loại, vần, đoạn, hình thức, chủ đề, phương pháp và nhân vật cũng "sống lại trong nhau" như vậy. Tác phẩm cuối cùng và cũng là tác phẩm hay nhất của Gide là một Thésée[6].

Thế giới xưa không ngừng xâm nhập vào thế giới nay, vậy cần gì phải chia cắt hai thế giới này. Dưới bề mặt chia cách sâu xa là sự tiếp nối liên tục: cho nên khi nghiên cứu, khảo sát văn chương, ta cần và phải di động tự do trong không gian và thời gian. Văn chương La-tinh phải được coi là sự đóng góp quý giá của La Mã vào nền văn minh Trung cổ Âu châu.

Phương pháp dùng để khảo sát toàn bộ nền văn chương này phải là phương pháp vi mô và vĩ mô. Phải "quan sát" trước tiên, nghĩa là "đọc thật nhiều" để tìm thấy những dữ kiện có ý nghĩa. Khi tìm ra một hiện tượng hay một dữ kiện có thể tách rời sang một bên là ta đã bắt đầu "thấy". Kỹ thuật hiển vi áp dụng vào bác ngữ học sẽ cho phép ta khám phá, trong những văn bản khác nguồn, những yếu tố cấu trúc đồng nhất, có thể coi như là bất biến trong văn chương Âu Châu. Điều đó chứng minh là có một lý thuyết và một lối thực hành phổ quát trong cách thể hiện văn chương Âu Châu.

Curtius đã chứng minh sự nhất quán sâu xa của nền văn học Âu Châu này nằm trong tiếng La-tinh: bởi tiếng La-tinh đã là ngôn ngữ văn hóa trải dài trong 13 thế kỷ, từ Virgile đến Dante (điều này tương tự như nền văn hoá Á Đông: Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam, từ thượng cổ đến đầu thế kỷ XX vẫn dùng chữ Hán). Nền văn chương Âu Châu trong giai đoạn La-tinh, đã vượt trên biên giới quốc gia, và nó đã nhất quán từ sau khi đế quốc La Mã sụp đổ cho đến thế kỷ XVI, XVII, ít nhất trong ba lãnh vực:

1/ Nhất quán về ngôn ngữ: tiếng La-tinh.

2/ Nhất quán về nguồn gốc: văn chương Hy-La.

3/ Nhất quán về cảm hứng.

Curtius trình bày những nét đặc thù trong các khuynh hướng văn chương Âu Châu và làm nổi bật những mối tương quan mật thiết giữa văn học Trung cổ (Moyen Âge) và văn học La-Hy (Antique), ông đặc biệt chú ý đến sự biến chuyển tư tưởng La-Hy trong thời kỳ Thiên Chúa Giáo. Tác phẩm Văn chương Âu Châu và thời Trung Cổ La-tinh mặc dù tụ họp tất cả những yếu tố lịch sử văn học, nhưng vượt trên tính chất văn học sử của thời kỳ La tinh-Trung cổ, với nhiều quan điểm đặc thù, nhiều sự khám phá lại những tác giả, tác phẩm bị bỏ quên, đưa ra một cái nhìn rất mới về các thời kỳ văn học được ông khảo sát.

Curtius cho rằng: mục đích tối hậu của một nhà phê bình là phải phục hồi tính nhất quán của một tác phẩm, của một thời kỳ, của một nền văn học, bằng cách sống với nó, bằng cách luôn luôn nghĩ đến nó, và yêu thích nó. Đó là sự đòi hỏi của tâm hồn, vừa mạnh mẽ, vừa u tối, vừa bí mật vừa sâu xa, nó kích thích ta, làm ta vượt lên trên những hoạt động khác.

 

Trong tập Tiểu luận văn chương Âu châu (Essais sur la littérature européenne) in năm 1950[7] Curtius viết về một số nhà văn Âu Châu trong đó có ba nhà văn lớn: Virgile, Goethe và Balzac. Theo ông, phải rút hẳn Virgile ra khỏi bàn tay những nhà giáo, và nếu muốn đọc và hiểu Virgile theo đúng giá trị của văn hào này thì phải bỏ hết những quan niệm đọc có sẵn, phải đưa Virgile ra khỏi những quan niệm phê bình lỗi thời dựa trên đặc trưng "thiên tài". Bàn về phê bình của Goethe, ông cho rằng cái lớn lao của nền phê bình Đức trong khoảng 1750-1830, là nó đã hiểu và làm nổi bật toàn bộ truyền thống Âu Châu.

Nếu triết học là "tư tưởng của tư tưởng", phê bình là "trí tuệ của trí tuệ", theo Schlegel, thì Curtius cho rằng phê bình là "văn chương của văn chương".

Đối với Balzac, Curtius có cảm tình đặc biệt. Hoàn toàn bị "Balzac lôi cuốn", ông cho rằng, tác phẩm của Balzac hiện ra tính "nhất quán phi thường. Phải sửa lại những bất công đối với Balzac, lâu nay vẫn được giới phê bình coi như một "thiên tài lực lưỡng, phàm tục", không tế nhị về tâm lý và không có văn phong đặc biệt. Curtius quả quyết rằng khi đã xâm nhập được vào "cái cao cả vô cùng" của Balzac rồi, ta sẽ thấy tác phẩm của văn hào này là một vũ trụ có cấu trúc đặc biệt cần phải khảo sát. Cái bí mật trong vũ trụ đó nằm trong thời thơ ấu của nhà văn.

Có thể nói: Cấu trúc, tính nhất quán bí mật là ba yếu tố chính trong phê bình của Curtius. Theo ông, nhà phê bình không cần tìm cách giải mã những bí mật trong tác phẩm mà nên chấp nhận nó, thẩm thấu nó, hấp thụ nó, "âu yếm nhìn nó" và Curtius đã áp dụng cách nhìn "âu yếm" này khi ông đọc các nhà văn, nhà thơ như Eliot, Proust... Về Proust, đi từ những nét đặc thù trong văn của Proust, Curtius xây dựng lại "đời sống tinh thần" của Proust và theo ông, Proust không phân chia ranh giới giữa thể xác và tâm linh, mà hội tụ cả hai trong văn phong: Nghệ thuật của Proust là muốn biểu dương toàn diện hiện thực.

Curtius còn đưa ra một quan niệm độc đáo về văn học sử: Những cuốn sách phân chia văn chương thành những dòng chảy, những trường phái khác nhau, như lãng mạn, hiện thực, tự nhiên, tượng trưng, vv... tức là những sơ đồ có tính cách quy ước như thế, theo ông, rất tức cười. Vì người ta cứ theo thói quen mà cắt văn chương thế giới ra làm từng mảnh, từng khúc, phân chia lãnh vực sắp xếp theo ngôn ngữ, dân tộc, thế kỷ, vv... làm cho chúng ta mất hẳn cái nhìn toàn diện.

Hãy nói riêng về hiện thực không thôi, thì cái ý diễn tả hiện thực hằng ngày không phải là sáng kiến của nghệ thuật thế kỷ XIX đâu, mà ngay từ ngày xửa ngày xưa người ta đã làm rồi: người ta đã làm trong thơ văn Hy-Lạp, trong những tiểu thuyết viết bằng tiếng La-tinh thời đế chế La Mã, trong những truyện cổ tích Bắc Âu thế kỷ XII, rồi đến các nhà văn như Rabelais, Cervantès, thế kỷ XVI, vv... Hiện thực trong hội họa bắt đầu từ ngày có những hình vẽ trên đá thời kỳ thạch khí. Tóm lại, những khuynh hướng hiện thực luôn luôn có từ mọi thuở, mọi đời. Có đến hàng tá, nếu không muốn nói đến hàng trăm thứ hiện thực khác nhau, bản chất khác nhau, tình cảm khác nhau, kỹ thuật khác nhau... Vì vậy, khoa học văn chương cũng như lịch sử văn chương phải nhận diện được những hình thức khác nhau ấy trong toàn bộ hiện thực của mọi thời.

Curtius phân biệt những chiều hướng khác nhau ấy, ông đã phác họa, tìm hiểu nguyên do nào đã phát sinh những khuynh hướng hiện thực khác nhau này. Một số tên tuổi mà theo ông, đã diễn tả được "toàn diện thế giới", như Virgile, Dante, Goethe, thời trước; đến thế kỷ XX có Proust, Joyce, Eliot, Claudel. Balzac có chỗ đứng riêng trong tâm hồn Curtius, theo ông, Balzac diễn tả được toàn diện thế giới. Trong Balzac, "tất cả đều đứng vững".

Có thể nói Curtius, đã dùng "chủ nghĩa thế giới" của các nhà văn, để chống lại chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Đức Quốc Xã, cũng như ông đã xây dựng một thứ "chủ nghĩa La-tinh" để thay thế chủ nghĩa Đại Nhật Nhĩ Man của Đức Quốc Xã.


 

[1] Xem chú thích số 136, chương 5: Ngôn ngữ học.

[2] Palimpsestes (Nguyên cảo), Seuil, Paris (1982).

[3] La littérature européenne et le Moyen Âge latin (Văn chương Âu Châu và thời Trung Cổ La-tinh) (1948), bản dịch tiếng Pháp của Jean Bréjoux, Presses Universitaires de France (1956), Presses-Pocket (1986).

[4] Pedro Calderon de la Barca (1600-1681), nhà thơ Tây Ban Nha, kịch tác gia bi kịch.

[5] Hugo von Hofmannsthal (1874-1928), nhà văn Áo, tác giả bi kịch ba-rốc và tượng trưng. Ba-rốc, phiên âm chữ Baroque, từ gốc Ý Barroco có nghiã là chuỗi hạt trai không đều, dùng để chỉ phong cách nghệ thuật và văn chương dị kỳ phát sinh ở Ý, nhờ phong trào Cải Cách Thiên Chúa Giáo trải rộng ở Âu Châu và Châu Mỹ La-tinh trong hai thế kỷ XVII và XVIII.

[6] Thésée, nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, là vua Athènes, tương truyền đã giải phóng kinh thành khỏi sự đô hộ của Minos (vua đảo Crète) và giết Quỷ Ngưu Đầu (Minotaure), quái vật đầu bò hình người.

[7] Essais sur la littérature européenne (Tiểu luận văn chương Âu châu) Claude David dịch sang tiếng Pháp, Grasset (1954).

 


© 1984-2016 Thụy Khuê