|
Tự Lực văn đoàn Văn học và cách mạng
2- Sự thành lập Tự Lực văn đoàn và Phong Hóa (cập nhật ngày 24/03/2022) I. Sự thành lập Tự Lực văn đoàn, theo Nhất Linh, Hoàng Đạo Nhất Linh ít khi đem đời sống thực vào tác phẩm, ngược lại Khái Hưng viết một số tiểu thuyết, truyện ngắn phản ánh những sự việc đã xẩy ra, nhờ đó, chúng ta có thể tìm lại được những mảnh đời trôi nổi của ông và các bạn, trong đó có giai đoạn đầu tiên thành lập Tự Lực văn đoàn. Việc nghiên cứu Tự Lực văn đoàn bắt buộc phải khởi đi từ hai tờ Phong Hóa và Ngày Nay, là hai tờ báo chính của văn đoàn này. Nhưng trước khi đi xa hơn, chúng tôi xin ghi lại những mốc chính của hai tờ bào này: - Phong Hóa số 1 ra ngày 16-6-1932) - Phong Hóa số 14 ra ngày 22-9-1932, hoàn toàn đổi mới. Số báo này được Nhất Linh và Hoàng Đạo công nhận là số báo đầu tiên của Tự Lực văn đoàn. - Phong Hóa số 190, ra ngày 5-6-1936, là số cuối cùng, sau đó bị rút giấy phép, đình bản hẳn. - Ngày Nay số 1 ra ngày 30-1-1935, nửa năm trước khi Phong Hoá bị đóng cửa. - Ngày Nay số 16 ra ngày 12-7-1936, một tháng sau khi Phong Hóa bị đóng cửa, Tự Lực văn đoàn đưa toàn bộ ban biên tập Phong Hóa sang Ngày Nay. - Bốn năm sau, Ngày Nay ra số 224 (7-9-1940), số báo cuối cùng. Công việc nghiên cứu của chúng tôi sẽ bắt đầu bằng sự trả lời những câu hỏi sau đây: - Tự Lực văn đoàn thành lập từ bao giờ? - Tôn chỉ của văn đoàn là gì? - Ai viết lại lịch sử tờ Phong Hóa?
Bốn chữ Tự Lực văn đoàn được in lần đầu trên báo Phong Hóa số 56 (ra ngày 21-7-1933), trong hai khung quảng cáo, in ở trang 5: -Tự Lực Văn Đoàn sắp ra Hồn bướm mơ tiên. -Tự Lực Văn Đoàn sắp in Vàng và Máu. Lần đầu tiên xuất hiện bốn chữ Tự Lực văn đoàn trên PH số 56
Trên Phong Hóa số 87 (2-3-1934), trang 2, đăng bài tuyên ngôn, nội dung như sau: Tự Lực Văn Đoàn Tự Lực Văn Đoàn họp những người đồng chí trong văn giới; người trong đoàn đối với nhau cốt có liên lạc về tinh thần, cùng nhau theo đuổi một tôn chỉ, hết sức giúp nhau để đạt được mục đích chung, hết sức che chở nhau trong những công cuộc có tính cách văn chương. Người trong Văn Đoàn có quyền để dưới tên mình chữ Tự Lực Văn Đoàn và bao nhiêu tác phẩm của mình đều được Văn Đoàn nhận và đặt dấu hiệu. Những sách của người ngoài, hoặc đã xuất bản, hoặc còn là bản thảo, gửi đến để Văn Đoàn xét. Nếu hai phần ba người trong Văn Đoàn có mặt ở Hội đồng xét là có giá trị và hợp với tôn chỉ thì sẽ nhận đặt dấu hiệu của Đoàn và sẽ tùy sức cổ động giúp. Tự Lực Văn Đoàn không phải là một hội buôn xuất bản sách. Sau này nếu có thể được, Văn Đoàn sẽ đặt giải thưởng gọi là Giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn để thưởng những tác phẩm có giá trị và hợp với tôn chỉ của Đoàn.
Tôn chỉ của Tự Lực Văn Đoàn 1- Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài, nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích để làm giầu thêm văn sản trong nước. 2- Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội chủ ý làm cho Người và cho Xã hội ngày một hay hơn lên. 3- Theo chủ nghiã bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghiã bình dân. 4- Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách Annam. 5- Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có trí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. 6- Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho nguòi khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả, quý phái. 7- Trọng tự do cá nhân. 8- Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa. 9- Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương Annam. 10- Theo một điều trong chín điều này cũng được, miễn là đừng trái ngược với những điều khác. Tự Lực Văn Đoàn
Vậy chúng ta có thể xem ngày 21-7-1933 (ngày bốn chữ Tự Lực Văn Đoàn được in lần đầu trên báo Phong Hóa số 56) hay ngày 2-3-1934 (ngày công bố bản tuyên ngôn Tự Lực Văn Đoàn trên Phong Hóa số 87) là ngày Tự Lực Văn Đoàn thành lập được không? - Câu trả lời của chúng tôi là: Không. Bởi vì, Tự Lực văn đoàn có trước hai số báo Phong Hoá 56 và 87 này. Sự kiện có trước này được xác nhận trên báo Phong Hóa số 154 (20-9-1935) rằng: Tự Lực văn đoàn chủ trương báo Phong Hóa, từ số 14, như ta sẽ thấy dưới đây. Phong Hóa số 154, 20-9-1935 Chúng tôi xin trình bày những điểm chủ yếu, được ghi trên tờ báo này, sau đây: 1- Tự Lưc văn đoàn chủ trương báo Phong Hóa từ số 14: Phong Hóa số 154, là số đặc biệt, kỷ niệm ba năm ngày thành lập tờ báo, với tiêu đề: "22-9-32, Kỷ niệm ngày báo ra 22-9-35", in ở trang 2. Trong bài viết này, có câu: "Có một điều ai cũng nhận thấy là vào thời kỳ báo Phong Hóa ra đời (kể từ số 14 trở đi, lúc Tự Lực văn đoàn bắt đầu chủ trương báo P.H.) [chúng tôi in đậm] trong làng báo có một khuynh hướng mới về mặt nhà nghề: tờ báo viết để quần chúng xem và tờ báo mong sống vì độc giả"[1]. Bài này ký tên Phong Hóa, chắc Nhất Linh hay Hoàng Đạo viết chứ không phải Khái Hưng, bởi vì Khái Hưng đã làm báo Phong Hóa từ số 1, như ta sẽ thấy ở dưới, và câu: kể từ số 14 trở đi, lúc Tự Lực văn đoàn bắt đầu chủ trương báo P.H. xác định rằng: Tự Lực văn đoàn chủ trương báo Phong Hóa từ số 14. Nói khác đi, Tự Lực văn đoàn, đã có trước Phong Hóa số 14 và Tự Lực văn đoàn nhìn nhận Phong Hóa số 14 là số báo khởi đầu của văn đoàn. 2- Hai chữ Tứ Ly xuất hiện lần đầu: Vẫn trên Phong Hoá số 154, trang 2, dưới tấm hình chụp báo Phong Hoá số 14, có ghi câu: "Đây là ảnh chụp số báo 14 (số bắt đầu thời kỳ Tự Lực văn đoàn đứng chủ trương báo P.H. [chúng tôi in đậm] ra đúng ngày tứ ly là ngày mọi việc đều không nên). Vì khổ to dễ nhầu nát, khó giữ nên đến số 20 thì thu lại bằng khổ bây giờ)". Lời ghi dưới hình chụp số PH 14, in ở PH số 154, trang 2 Câu này xác định một lần nữa việc Tự Lực văn đoàn chủ trương báo Phong Hóa từ số 14. Và lấy ngày Tứ Ly là ngày xấu, như một sự thách đố. Hai chữ Tứ Ly sẽ trở thành bút hiệu của Nguyễn Tường Long, tức Hoàng Đạo sau này. Vẫn trên Phong Hóa số 154, trang 2, trong bài Bên đường dừng bước, Tứ Ly viết: "Cách đây ba năm, một đêm thu giá lạnh, tôi và Nhất Linh từ biệt Khái Hưng ở báo quán, nện gót trên đường vắng mà về. Lúc đó vào khoảng hai giờ sáng (...) Trong khoảng đêm giài [dài] tịch mịch, đương lúc gió heo may đuổi lá khô sào sạc [xào xạc], chúng tôi thấy trong lòng nhẹ nhàng vui vẻ... Sáng hôm ấy, số đầu (tức là số 14) Phong Hóa ra đời (...) [chúng tôi in đậm]. Ba năm qua... Hôm nay tạm dừng chân đứng lại, chúng tôi nhìn con đường đã đi; chúng tôi ra báo ngày 22 tháng 9 năm 1932, là một ngày rất xấu: ngày tứ ly. Không phải là một sự vô tình, chính là định ý cưỡng lại cái thuyết số mệnh nó bắt dân ta nằm dí một nơi, đương lúc mọi người cùng tiến."[2] Câu: "Chúng tôi ra báo ngày 22-9-1932, là một ngày rất xấu: ngày tứ ly, chứng tỏ cái tên Tứ Ly cũng phát xuất cùng với sự "ra đời" của báo Phong Hóa, kể từ số 14, và phải đến báo Ngày Nay, mới đổi thành Hoàng Đạo. 3- Diện mạo nhà in báo Phong Hóa Vẫn trên Phong Hóa số 154, trang 3, trong bài Nói chuyện cũ, Nhất Linh mô tả nhà in in báo Phong Hóa như sau: "Cái nhà in in báo Phong Hóa lúc đó cũng là "một sự lạ chưa từng thấy" trên hoàn cầu. Nó có cái tên nhũn nhặn là Imprimerie Moderne, dịch nôm là "nhà in tân thời". Cái nhà in tân thời đó nói cho đúng ra nó là cái bếp, hay cũng na ná như cái bếp. Những lúc chúng tôi xuống chữa bài, luôn luôn có hơi khói mầu lam đưa thoảng qua: nhà in trông mờ ảo như một bức tranh thủy mặc Tầu. Nhiều khi những mùi thịt bò xào, mùi chả trứng cũng theo gió bay vào thơm nức cả. Những mùi thơm quý hoá đó chỉ vào quãng mười, mười một giờ mới có. Lúc đói bụng vừa chữa bài, vừa ngửi những hơi thơm đó, có phần cũng dễ chịu. Mùa rét đến thì cái nhà bếp đó biến thành bắc băng cực. Gió lùa vào các cửa sổ đã vỡ hết mặt kính làm cho chúng tôi không thể nào chữa bài được một cách cẩn thận. Chúng tôi không thể nào quên được cái đêm trước ngày số báo Tết năm 1934 xuất bản. Lúc đó vào quãng mười hai giờ đêm. Chúng tôi ở nhà báo sắp sửa về đi ngủ, thì có giấy nói gọi báo tin máy không thể in được nữa. Xuống nhà in mới biết vì trời rét quá mực đỏ in bià số Tết đóng cục lại. Chúng tôi thấy giá cả chân tay, và trông cái máy in mà thương hại. Mỗi lần người cai cho máy chạy thử, là nó cứ rung rung như người rét run cầm cập. Sau cùng ông chủ nhà in bảo lấy ra một cái hỏa lò đầy than hồng đặt xuống gầm máy để sưởi cho nó. Quả nhiên máy lại chạy được. Chúng tôi lấy làm lạ rằng máy cũng biết ấm như người; trông cái buồng máy lúc đó y như hệt cái buồng đàn bà đẻ". Đó là diện mạo nhà in Imprimerie Moderne, rất nghèo khổ lúc ban đầu, nhưng sau sẽ thay đổi, chúng tôi sẽ nói đến những biến chuyển của nhà in này trong một chương sau.
Trước khi làm Phong Hóa, Nhất Linh chủ trương báo Tiếng Cười. Vẫn trong bài Nói truyện cũ, trên Phong Hóa số 154, Nhất Linh, kể lại rằng: "Đầu tiên muốn trống [chống] lại cái vẻ đạo mạo, già khụ của các tờ tuấn báo quốc ngữ, chúng tôi định cho ra một số báo lấy tên là "Tiếng Cười". Tờ "Tiếng Cười" đó đã được giấy phép xuất bản của chính phủ, nhưng không thể ra đời được, vì một lẽ giản dị là không kịp thu xếp xong trước ngày hết hạn giấy phép. "Tiếng Cười" vì thế đổi thành Tiếng khóc." "Lúc chúng tôi sắp nhận làm báo Phong Hóa thì các tuần báo không có vẻ thịnh vượng, ít tờ xuất bản được tới hai nghìn số. Chúng tôi lúc đó mong ba nghìn và đã tự cho là "tham lam vô độ". Sau này trong bài tiểu sử Nhất Linh, do Nguyễn Ngu Í soạn ở Sài Gòn, năm 1966, có câu: "xin ra tờ báo trào phúng "Tiếng Cười", nhưng vì gặp cảnh không tiền nên "tráng sĩ đành năm co". Quá hạn, bị rút giấy phép"[3] Vậy báo Tiếng Cười không ra được vì không có tiền, chứ không phải vì chính quyền thuộc địa không cho phép như lời Tú Mỡ viết trong hồi ký Trong bếp núc của Tự Lực văn đoàn[4] được nhiều người chép lại. Nhưng nếu không có tiền làm báo Tiếng Cười, thì lấy tiền đâu ra để làm báo Phong Hóa? Tại sao "tự nhiên" lại có tiền? Đó là vấn đề cần tìm hiểu. Một điều lạ là trong số báo Phong Hóa 154 này, chỉ Hoàng Đạo và Nhất Linh lên tiếng. Khái Hưng làm thinh. Ông không tuyên bố gì cả. Tại sao? * * * II. Sự thành lập báo Phong Hóa, theo Khái Hưng Vì thắc mắc muốn tìm hiểu lý do tại sao Khái Hung làm thinh, không phát biểu gì trên Phong Hoá 154 (20-9-1935), số báo kỷ niệm ba năm ra đời Phong Hoá, nên chúng tôi tìm đọc kỹ những số Phong Hóa đầu tiên, từ số 1 đến số 13 (mà từ trước đến nay thường được coi là tờ báo của ông Phạm Hữu Ninh, vì ít người đọc, sắp chết, nên bán lại cho Nguyễn Tường Tam). Việc đọc này dẫn đến kết quả bất ngờ: Khái Hưng bao biện hầu hết các trang báo Phong Hóa, từ số 1 đến số 13, với những bút hiệu khác nhau. Vậy mà trên các bài viết về Tự Lực văn đoàn từ trước đến nay, hầu hết đều nói đại ý: Nhất Linh mua lại tờ báo của ông Phạm Hữu Ninh đang gặp khó khăn sắp đóng cửa. Việc này thật khó hiểu, bởi vì báo Phong Hóa do Khái Hưng viết từ số 1. Tại sao người ta lại bảo đó là tờ báo của ông Phạm Hữu Ninh và không nhắc đến Khái Hưng? Nhất Linh và Hoàng Đạo trong số Phong Hoá 154 cũng không nhắc đến vai trò của Khái Hưng trong những số Phong Hoá đầu tiên (từ số 1 đến số 13). Rồi Khái Hưng cũng không giải thích gì trên Phong Hoá số 154, là số đặc biệt này về sự ra đời của Tự Lực văn đoàn. Phải đọc Ngày Nay số 16 (ra ngày 12-7-1936), ta mới thấy xuất hiện truyện dài Những ngày vui trong đó Khái Hưng đã tiểu thuyết hóa việc thành lập Tự Lực văn đoàn và báo Phong Hóa qua lối viết hóm hỉnh của ông, với những chi tiết hiếm quý, chưa từng thấy. Ngày Nay số 16 ra ngày 12-7-1936, là số báo quan trọng, tương tự như Phong Hóa số 14 ra ngày 22-9-1932, trước đây đã xác định sự thành lập Tự Lực văn đoàn: Bởi vì, sau số 190 (5-6-1936), Phong Hóa bị đình bản hẳn, Tự Lực văn đoàn dồn toàn lực vào Ngày Nay số 16, như một sự phản hồi, làm sống lại tinh thần tờ Phong Hóa. Ngày Nay số 16, trang đầu in vở kịch chính trị ngắn tựa đề Chết của Khái Hưng do Nguyễn Gia Trí minh họa, trình bày như một bài xã luận, nội dung xác định lập trường sau khi Phong Hóa chết. Khái Hưng viết rất kín đáo nên ty kiểm duyệt không hiểu để... kiểm duyệt. Kịch Chết trên Ngày Nay số 16 Tác phẩm mô tả cái chết của Nguyễn Văn Lực (tượng trưng cho tờ Phong Hóa). Trước khi chết Lực dốc sức tàn, trăng trối với các bạn: "Công việc chúng ta cùng nhau theo đuổi... trong bốn năm ròng... anh em đều hiểu rõ... hiểu rõ như tôi... Nay đã có cơ sở vững bền... và nó sẽ vững bền vì chúng ta muốn thế (...) Điều quan trọng mà tôi... mà anh em ta đã nhiều lần nhắc đến... hẳn anh em còn nhớ. Là công cuộc chúng ta theo đuổi... vẫn tiến hành như thường... dù xẩy ra việc gì mặc lòng... dù một người trong bọn ta chết đi... người chết đi là ai cũng vậy (...) Chỉ cái chết của ý tưởng... là đáng sợ... là đáng phàn nàn... Còn cái chết của người!"[5] Thông điệp thật rõ ràng và quyết liệt: "trong bốn năm ròng" [ý nói từ Phong Hoá số 1 (16-6-1932) đến Phong Hoá số 190 (5-6-1936)] chúng ta đã tranh đấu, đã có cơ sở vững vàng, nay tờ báo chết, mọi việc phải tiếp tục tiến hành như thường. Kịch Chết chồng chất hai ý nghiã: tờ báo chết hay chính một người trong chúng ta có chết đi, thì người khác vẫn phải tiếp tục. Và tờ Phong Hóa liền được thay thế bằng tờ Ngày Nay. Kịch Chết mang lời di chúc có tính cách triết học của bậc đàn anh: "Chỉ cái chết của ý tưởng là đáng sợ... còn cái chết của con người!" [thì có nghiã lý gì!]. Cùng với những dòng chữ quyết liệt trong vở kịch Chết này, Khái Hưng đã ghi lại lịch sử sự thành lập báo Phong Hóa trong tiểu thuyết Những ngày vui.
Những ngày vui của Khái Hưng Ngày Nay số 16 (12-2-36) là tờ báo mà Tự Lực văn đoàn dồn toàn lực vào sau khi Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn, như để chứng tỏ: Chúng tôi chưa chết đâu. Trên tờ báo này, liền theo kịch Chết của Khái Hưng đăng ở trang nhất thay bài xã luận, là hai tiểu thuyết Những ngày vui của Khái Hưng và Lạnh lùng của Nhất Linh[6]. Lạnh Lùng là một trong những tác phẩm chủ yếu của Nhất Linh, chúng tôi sẽ trở lại sau. Những ngày vui là tác phẩm thứ yếu của Khái Hưng, được viết trong bối cảnh Phong Hóa bị đe dọa đóng cửa; chắc hẳn với mục đích ghi lại "sự tích" Tự Lực văn đoàn, nếu một mai, tờ Ngày Nay cũng bị đóng cửa nốt. Những ngày vui đăng trên Ngày Nay, từ số 16 (12-7-1936) đến số 29 (11-10-1936), được nhà xuất bản Đời Nay in thành sách năm 1941. Nhà Phượng Giang tái bản ở Sài Gòn năm 1958. Việc Nhất Linh cho in lại tác phẩm thứ yếu này của Khái Hưng, dường như ngoài ý ghi ơn ân nhân Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên đã thầm kín giúp vốn để cải tổ Phong Hóa, còn có ý tưởng niệm Khái Hưng, vinh danh Nguyễn Gia Trí và nhớ lại những ngày vui thành lập Tự Lực văn đoàn thủa trước. Những ngày vui khi đăng trên báo Ngày Nay năm 1936, do Nguyễn Gia Trí minh họa. Bản Phượng Giang sửa vài chỗ, nhưng việc sửa chữa này có từ năm 1941, trên bản Đời Nay hay là do Nhất Linh sửa năm 1958? Nhưng những chỗ sửa không quan trọng mấy. Tóm lại, Những ngày vui đã được ba nhân vật chính: Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh viết, minh họa và tái bản, có thể với mục đích để lại dấu vết việc "khai sinh" Tự Lực văn đoàn cho đời sau. Những ngày vui, NN số 20 Tóm tắt cốt truyện Những ngày vui Những ngày vui là một hình thức tiểu thuyết hóa việc thành lập Tự Lực văn đoàn và báo Phong Hoá, qua ngòi bút Khái Hưng. Phương [Khái Hưng] là con trưởng một gia đình giầu. Lan vợ chàng, con quan, gia đình danh giá chẳng kém gì nhà chàng. Những năm 1928-1930, ai về chơi đồn điền của Phương cũng phải kinh ngạc, đường đi rộng rãi, nhà cửa cao ráo, sáng sủa, bởi Phương đã cải tiến đời sống của dân làng. Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế xẩy ra, dân quê túng thiếu, vợ chồng chàng tìm cách nâng cao đời sống của họ. Thấy việc buôn sơn do người Tầu và người Nhật độc quyền, Phương nghĩ ra một cách kinh doanh mới: trồng cây sơn và lập xưởng pha sơn để tạo công ăn việc làm cho dân chúng trong vùng. Phương chuyển những nơi trồng mía, khoai, sắn, sang trồng sơn, lập nhà máy chế tạo. Chàng bỏ ra gần mười vạn bạc vốn, nhưng vì chưa có kinh nghiệm lại bị sự cạnh tranh kịch liệt của người Tầu và Nhật. Kết quả, bốn năm sau, đồn điền cùng các xưởng thợ, nhà máy của chàng đều bị chủ nợ tịch biên bán đấu giá. Phương khánh kiệt gia tài, phải về sống nhờ ở từ đường nhà vợ tại Lũng Thượng[7]. May được người bạn minh hương là Nguyễn Văn Tiên Léang fat Houa (khi in thành sách sửa thành Leung-Fat-Fa) giúp đỡ. Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên -khi còn nghèo khổ đã được Phương giúp cho mấy trăm bạc- nay muốn trả ơn chàng. Leung-Fat-Fa có một đời đầy thăng trầm, sóng gió, nhưng cuối cùng được hưởng gia tài của cha, người Tầu, chủ một hiệu tạp hóa lớn ở Hà Nội. Leung mượn Phương làm sổ sách, trả lương 30 đồng. Phương nhận lời, đưa gia đình rời Lũng Thượng về Hà Nội. Đến Hà Nội, Phương đang đi lang thang tìm nhà thuê, thì gặp lại Duy hoạ sĩ [Nguyễn Gia Trí] bạn thân, Duy cho biết đã thuê nhà sẵn cho Phương rồi. Nhà có 5 phòng, thuê 40 đồng một tháng. Hiện đã có Điển, thầu khoán, đến ở cùng. Sở dĩ Duy có tiền, vì chàng đang làm đại lý bán xe hơi cho một hãng ô tô lớn, lương 50 đồng, cộng thêm hoa hồng mỗi chiếc xe bán được khoảng hai, ba chục bạc. Mỗi tháng Duy kiếm được từ trăm rưởi trở lên, hơn tiền bán tranh nhiều, vì thế Duy mới có tiền thuê nhà cho bạn ở để làm báo[8]. "Ngoài công việc bán ô tô, nếu còn thừa thời giờ Duy vẽ tranh. Còn Điển và Phương -tuy Phương bận bán hàng tạp hóa- sẽ cùng nhau theo đuổi công việc soạn văn, dịch sách, gửi đăng các tạp chí trước khi cho xuất bản"[9]. Phương và Điển viết văn, dịch sách, Duy vẽ. Nhưng bao đêm thức trắng mà tác phẩm của hai "nhà văn" chẳng được báo nào đăng. Một hôm Duy dõng dạc tuyên bố:"Bài vở các anh cứ để đấy, sẽ có chỗ đăng". Duy đã dụ được ông chủ hãng xe hơi chịu bỏ tiền ra một tờ báo nhà để quảng cáo các loại ô tô, khỏi cần gửi đăng quảng cáo ở các báo khác. Ông chủ cho anh mỗi tháng 200 đồng tương đương với số tiền ông phải bỏ ra đăng quảng cáo trên báo. "Thế rồi ngày mồng một tháng mười, như lời "kính cáo" gửi cho các bạn đồng nghiệp. Tự Động ra số đầu "chào quốc dân". Báo "Tự động" là tờ báo đầu tiên bọn Phương làm với số tiền trợ cấp của ông chủ hãng ô tô. Nhưng báo Tự Động không khá được, mặc dù Duy đã hết sức trổ tài "hùng biện", đi các tỉnh để thuyết phục những vị chức sắc có tiền mua báo. Bỗng Phượng [Nhất Linh] xuất hiện (trong sách đổi tên là Phúc). Phượng là giáo sư cử nhân mới ở Pháp về, nổi tiếng với những "projet" dựng báo rất "hoành tráng" được chàng rao giảng khắp Hà thành. Phượng thuyết phục Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên. Phượng thao thao bất tuyệt với Duy. Nhưng vì không có tiền để lăng-xê, Tự Động vẫn hoàn toàn bế tắc, nếu không có biến cố bất ngờ xẩy ra: Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên bị bệnh nặng, thầy thuốc bó tay. Tiên gọi hai bạn Phương, Duy đến đề nghị biếu một vạn để làm báo. Phương từ chối. Tiên bèn nghĩ cách khác: "… Tôi biết tôi sắp chết. Vậy trong chúc thư tôi nói cho các anh vay số một vạn bạc, bao giờ có tiền thì các anh trả lại cho vợ con tôi. Không bao giờ có tiền thì coi như món nợ ấy không có... Vậy các anh bằng lòng như thế nhé?" Duy sợ Phương từ chối liền trả lời: - Như thế thì có lẽ được. Tiên vui mừng giơ hai tay ra bắt tay hai người... Hai tuần lễ sau, báo Con Người của bọn Phương, Duy ra đời[10] Đây là tiểu thuyết, vậy có phần hư cấu. Nhưng chúng ta có thể loại bỏ dễ dàng những điều hư cấu để chỉ giữ lại những điểm phù hợp với thực tế: 1- Khoảng 1928-1930, có thể Khái Hưng đã giúp dân làng Cổ Am (quê ông) cải tổ lại làng mình theo lối mới, vì ông đã từng viết lại kinh nghiệm này trong 7 bài xã luận in trên Phong Hóa, từ số 80 (5-1-34) đến số 87 (2-3-34), tựa đề Một bản chương trình, chủ trương xây dựng lại nông thôn. 2- Việc Khái Hưng buôn sơn có thật: ông buôn với người bạn Nhật, việc này ông kể lại trong truyện ngắn Kong-Ko Đai-Jin, in trên Phong Hóa số 14 (22-9-32). 3- Về căn nhà Duy thuê cho Phương: Nhà có 5 phòng, thuê 40 đồng một tháng. Có thể là trụ sở đầu tiên của báo Phong Hóa, ở phố Đường Thành, như Khái Hưng đã nhắc lại ở một chỗ khác trong Những ngày vui; mà cũng có thể là căn nhà số 1 Boulevard Carnot, trụ sở chính thức của báo Phong Hóa từ số 1 (16-6-32) đến số 126 (30-11-34). Trụ sở này giữ đến khi toà soạn và trị sự chuyển về số 80 Avenue du Grand Bouddha (Quan Thánh), cuối năm 1934. 4- Việc Duy dụ được một ông chủ bán xe hơi bỏ tiền ra làm báo, ám chỉ việc ông Phạm Hữu Ninh (hiệu trưởng trường Thăng Long) hay ông Nguyễn Xuân Mai (Giám đốc sáng lập tờ Phong Hóa) "trợ cấp" cho bọn Phương 200 mỗi tháng để làm Phong Hóa. 5- Có 200 đồng mỗi tháng, Phương, Duy làm tờ Tự Động. Chữ Tự Động này có hai nghiã: - Để chỉ tờ Phong Hóa từ số 1 đến số 13, khi Khái Hưng một mình tự biên tự diễn. - Và Tự Động cũng chính là Tự Lực, hạt nhân đầu tiên của Tự Lực văn đoàn. 6- Bỗng Phượng xuất hiện, Phượng là giáo sư cử nhân ở Pháp về, với những dự định làm báo hoành tráng: đích thị Nhất Linh. Nhưng chưa có tiền để làm, phải đợi đến khi Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên, để di chúc cho một vạn, thì báo Con người mới ra được. Con người chính là tờ Phong Hóa từ số 14 trở đi. Số tiền 10.000 đồng là cái vốn để Nhất Linh cải biến hoàn toàn tờ Phong Hóa. Nếu cái chết đột ngột của Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên và việc Tiên để lại số tiền lớn lao cho Tự Lực làm báo, không được tự nhiên mấy, khiến ta có thể nghi ngờ. Thì có thể tin vào giả thuyết thứ nhì: tiền này phải chăng là tiền riêng của bà Khái Hưng? Vì gia đình cụ thân sinh ra bà, Tuần phủ Lê Vân Đính, rất giầu, có biệt thự ở Sầm Sơn; bà lại được mẹ cho một số ruộng ở Hải Hậu?[11] Ngay cả việc Khái Hưng thuê biệt thự 80 Quan Thánh làm cơ sở cho các báo Phong Hóa, Ngày Nay (và trụ sở Việt Nam Quốc Dân Đảng sau này) có thể cũng do vốn của bà Khái Hưng chăng? Dù sao chăng nữa, việc Phong Hóa có tiền để cái tổ tờ báo, là do nguồn tài trợ của Leung-Fat-Fa hay bà Khái Hưng, cũng là từ Khái Hưng. Theo Những ngày vui thì Tự Động số 1, in 5.000 số, tiền in: 75 đồng, lương toà soạn kiêm trị sự bốn người hết 100 đồng. Linh tinh: 50 đồng. Tổng cộng, chi: 225 đồng. Tiền bán báo (trừ hoa hồng) còn 30 đồng. Tiền phụ cấp của hãng ô tô là 200 đồng. Tổng cộng: thu 230 đ. Lãi: 5 đồng[12]. Việc Tự Động số đầu ra 5.000, chắc là hư cấu, sự thật có lẽ chỉ khoảng 3.000 số, vì Nhất Linh, trong bài Nói truyện cũ, in trên Phong Hóa số 154, đã trích dẫn ở trên, cho biết: "Lúc chúng tôi sắp nhận làm báo Phong Hóa thì các tuần báo không có vẻ thịnh vượng, ít tờ xuất bản được tới hai nghìn số. Chúng tôi lúc đó mong ba nghìn và đã tự cho là "tham lam vô độ". Còn tiền chi tiêu được kê khai, có thể đúng với Phong Hóa thời kỳ đầu, từ số 1 đến số 13, khi tờ báo còn nhận trợ cấp hàng tháng của ông Phạm Hữu Ninh hay ông Nguyễn Xuân Mai. Trên Phong Hóa số 58 (4-8-33), có biên bản về Phong Hóa số 47 (19-5-33) cho biết: Phong Hóa số 47 phát hành được 10.150 số. Như vậy, nếu Phong Hóa số 14 (22-9-32) in 3000 số, thì chưa đầy một năm sau, tờ báo đã in hơn gấp ba lần số phát hành đầu tiên.
Chân dung Khái Hưng Những ngày vui mô tả ba người: Khái Hưng "trong vai" Phương, Nguyễn Gia Trí trong vai Duy, Nhất Linh trong vai Phượng (khi in thành sách đổi là Phúc). Chúng ta biết rất ít về quãng đời trước khi làm báo của Khái Hưng. Nguyễn Tường Bách, em út Nhất Linh, một trong những người gần gũi Khái Hưng trong giai đoạn 1945-1946, viết: "Cuộc đời của Khái Hưng Trần Khánh Giư có thể gọi là kỳ lạ. Anh đã đậu Tú tài ban Triết học, độ ấy còn rất hiếm, nhưng không ra làm quan hay một công chức cao cấp nào, một việc rất dễ cho anh- ông thân sinh là Tuần phủ và nhạc phụ là Tổng Đốc. Tại sao không chạy một chân tri huyện, mà lại xoay sang làm nghể dạy học và nghề làm báo nghèo kiết bấp bênh? Một lần, tôi có gạn hỏi thì anh chỉ cười đáp: - "Cũng chẳng hiểu tại sao cả. Thích làm báo thì làm báo chớ sao?" Đó cũng là câu trả lời chung của mấy anh em. Nghe nói, nhà tiểu thuyết xã hội, lãng mạn trước kia đã từng đi... buôn, làm đại lý cho một hãng dầu xăng, chắc muốn giầu to. Song chắc đầu óc nghệ sĩ không thích hợp lắm với lối buôn bán quắt quéo, nên chỉ thua lỗ (cũng may, nếu phát tài thì Việt Nam không có nhà văn Khái Hưng!). Từ Ninh Giang[13] anh lên Hà Nội, làm giáo sư trường tư thục Thăng Long. Ngay hồi đó anh đã viết cho tờ Duy Tân những truyện vui hay xã thuyết, cùng với nhà văn Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, nhà văn Tchya[14] Đái Đức Tuấn, một số bài nữa đăng trên tờ Phong Hóa (cũ, trước khi sang tay Nhất Linh quản lý) và tờ Văn Học tạp chí của anh em Dương Bá Trạc. Nhất Linh sau đó lại vào dạy trường Thăng Long. Hai người hiểu nhau rất nhanh, rất tâm đắc, có cái nhìn chung về xã hội, về văn học."[15] Đấy là Khái Hưng dưới mắt Nguyễn Tường Bách, người em út trong gia đình Nhất Linh. Trong Những ngày vui, Khái Hưng mô tả mình trong vai Đỗ Như Phương, nói phóng lên một chút về gia cảnh: "Phương là con trưởng một gia đình cự phú", còn phần gia tài chàng được hưởng chắc không sai mấy: một cái ấp ở Phú Thọ rộng ba nghìn mẫu vừa ruộng vừa đồi và vài toà nhà cho thuê ở Hà Nội"; cả về người vợ cũng thế: "Lan, vợ chàng là con quan, nhà cũng giầu có chẳng kém gì nhà chàng"[16] Hành động và tư tưởng của Phương thì đúng Khái Hưng: ngay từ hồi trẻ, Phương đã hoạch định một chương trình xã hội để nâng cao đời sống dân quê, trước hết về nhà cửa đường phố: "Chàng nhờ một người bạn kiến trúc sư vẽ kiểu nhà thích hợp với dân quê, rồi bắt các nông phu điền tốt trong ấy làm theo. Nếu có quá tốn kém thì chàng chu cấp cho ít nhiều. Hồi mấy năm 1928-1930, ai về chơi đồn điền của Phương cũng phải kinh ngạc, khi ngắm qua những đường đi rộng rãi, những phố xá sạch sẽ, và những lớp nhà lợp ngói, lợp tranh cao ráo, sáng sủa, hay khi tò mò để mắt tới những đứa trẻ y phục gọn gàng cắp sách đi học"[17] Qua những dòng này ta có thể tưởng tượng cảnh làng Cổ Am, quê Khái Hưng, trước khi bị Pháp dội 57 quả bom ngày 16-2-1930 và hiểu tại sao Khái Hưng cực lực chống Pháp. Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế (1929) ập tới, thóc lúa bị đình trệ không bán được, giá thóc gạo mỗi ngày một hạ, nông phu không kiếm đủ tiền ăn và nộp thuế, nên bắt buộc phải trả lại ruộng cho chủ. Đất bỏ hoang, Phương bèn tính đến phương sách thứ hai: chàng quay ra trồng sơn ở đồn điền, và bỏ vào 10 vạn rồi vay thêm ngân hàng bằng cách ký quỹ đồn điền. Lại thất bại. Phương mất cả đồn điền, thêm nợ nần, phải trở về sống nhờ ở từ đường nhà vợ. Trong lúc khó khăn này, chàng được Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa, giúp đỡ, Phương đưa gia đình về Hà Nội, làm thủ quỹ cho hiệu Leung-Fat-Fa. Leung-Fat-Fa là hiệu tạp hóa lớn ở phố hàng Ngang của Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa. Khái Hưng giải thích việc này như sau: "Lòng tử tế của Tiên tỏ ra rằng Tiên là một người Tàu, người Tàu thuộc thời Xuân Thu Chiến Quốc hay Tiền Hán, Hậu Hán. Không phải lòng tử tế của bọn phi thường, nhưng lòng tử tế Tàu kia. Đối với Phương, Tiên tự coi như người chịu ơn sâu, đời đời không thể trả hết, và mấy trăm bạc Phương giúp chàng ngày xưa, chàng đặt ngang hàng với bát cơm của bà Phiếu Mẫu giúp Hàn Tín khi anh tể tướng còn hàn vi"[18] Như vậy, trong Những ngày vui, những nét đời thật của Khái Hưng lộ khá rõ, được sửa đổi và thêm thắt đôi chút, nhưng giữ nguyên nền chính: Khái Hưng và vợ đều là con quan. Ông đã từng lập xưởng kinh doanh sơn ở Phú Thọ và bị lỗ vốn. Việc buôn sơn còn được ông nhắc đến trong truyện ngắn Kong-Ko Đai-Jin, in trên Phong Hoá số 14 (22-9-32). Sau đó ông ra Hà Nội dạy trường Thăng Long, gặp Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh... Việc Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa cho tiền để làm báo, được Khái Hưng xem như lòng tử tế của người Tầu, người Tàu thuộc thời Xuân Thu Chiến Quốc hay Tiền Hán, Hậu Hán, và sự đáp ơn của Leung-Fat-Fa với Khái Hưng chính là sự đáp ơn của Hàn Tín với bà Phiếu Mẫu ngày xưa. Chân dung Nguyễn Gia Trí Vào truyện, Khái Hưng tả cảnh ba người bạn Ngạc, Điển, Duy và Xuyến (tình nhân của Ngạc) đi ô tô đến Lũng Thượng để dự lễ tiệc do Phương mời. Giữa đường, xe chết máy, Ngạc lúi húi cúi xuống hý hoáy tìm cách sửa. Trong khi ấy Duy đem bút chì và giấy ra vẽ. "Ngạc ngửng lên trông thấy, gắt: - Trời ơi, anh còn vẽ được! - Truyện! Chín năm "Mỹ thuật" của người ta! Ngạc thì thầm bảo Điển: - Động một tý là nó giở chín năm trường Mỹ thuật của nó ra. Xuyến vừa soi gương bôi sáp môi vừa hỏi: - Anh Duy học chín năm ở Beaux Arts thực đấy à? Duy, giọng tự phụ: - Lại chả thực! Mà kể thì cũng thực. Là vì học gần hết năm thứ hai và sau một cuộc cãi lý kịch liệt với giáo sư, Duy cáu tiết bỏ trường, tuy chàng là một thanh niên rất có hy vọng học. Hai năm sau, một hôm gặp Duy đi lang thang trên đường vùng quê với đủ các họa cụ đeo trên lưng, ông đốc trường Mỹ thuật liền hỏi (thiếu mấy chữ) Duy nên lại vào trường tòng học. Duy vâng lời. Nhưng đến năm thứ ba, được dăm tháng, vì một điều chẳng quan hệ mấy, Duy lại bỏ học. Rồi ít lâu lại vào học. Lần sau cùng, Duy chính thức từ giã trường Mỹ Thuật, vì chàng trúng tuyển kỳ thi ra.[19] Tính góp lại, thời kỳ học tập của Duy vừa đúng chín năm. - Vô lý! Chín năm! - Ấy là kể cả nghỉ hè nữa đấy chứ nếu không thì làm quái gì đủ chín năm. Xuyến nghiêng đầu sửa mái tóc, mỉm cười hỏi: - Anh học vẽ chín năm; chắc phải giỏi. Nhưng anh bắt đầu vào trường từ năm anh lên mấy? - Từ năm mười bẩy, lúc ấy tôi vừa đậu thành chung. Vị chi năm nay tôi hăm bẩy. (...) - Này, nhưng chữa xe làm gì nữa, lại đây xem tranh của tôi hơn. Các anh phải biết "Một công trình tuyệt tác!" Điển và Ngạc chán nản ngồi xuống vệ đường dưới bóng một cây đề lớn. Duy đem tranh lại khoe: - Đó, các anh coi: Dã man không? Vô nhân đạo không?"[20] Duy vẽ tranh: hai người đàn bà lưng cúi gò, vai khoác dây thừng, kéo cái bừa do một người đàn ông đẩy. Đoạn văn trên đây rất quan trọng, vì nó cho ta biết thêm về tiểu sử Nguyễn Gia Trí. Tuy nhiên nếu đặt vào bối cảnh năm 1932, khi Phong Hóa sắp ra đời, thì lúc đó Nguyễn Gia Trí chưa ra trường, Khái Hưng không thể đưa vào miệng Duy câu: Truyện! Chín năm "Mỹ thuật" của người ta! Câu này chỉ có thể nói năm 1936, khi Khái Hưng viết truyện này. Nhưng nếu bỏ qua chi tiết vô lý này, ta có thể rút ra một số thông tin về Gia Trí sau đây: Khái Hưng sinh năm 1896, Nhất Linh sinh 1906, còn Nguyễn Gia Trí, thường ghi sinh năm 1908; nhưng không ai biết chắc. Năm ông đỗ vào trường Mỹ Thuật cũng mù mờ: Cuốn Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (1925-1990) ghi Nguyễn Gia Trí học khóa IV (1928-1933) rồi bỏ dở, trở lại học khóa VII (1931-1936). Theo thư Nguyễn Gia Trí gửi Mai Thọ Truyền[21], ta được biết: tình cờ đi xem hội chợ (1935) thấy tranh sơn mài của Trần Quang Trân đẹp, ông bèn quay về trường, học sơn mài. Theo Lê Phổ[22], Nguyễn Gia Trí học cùng lớp với Lê Thị Lựu, tức là khóa III (1927-1932). Theo Những ngày vui, Nguyễn Gia Trí vào trường Mỹ thuật năm 17 tuổi. Học chín năm (kể cả thời gian nghỉ). Những điều này chắc đã được Nguyễn Gia Trí kiểm lại, cho phép ta rút ra những nhận xét sau đây: 1- Việc ông ra trường năm 1936, phù hợp với hoạt động của ông trong Tự Lực văn đoàn, vì kể từ năm 1936, Nguyễn Gia Trí vẽ tranh công khai và quyết liệt hơn thời kỳ chưa ra trường. 2- Vì ông ra trường năm 1936, và ông học 9 năm (kể cả những lúc bỏ dở), vậy ông vào trường năm 1927, cùng lớp với Lê Thị Lựu, đúng như lời Lê Phổ. 3- Năm 1927, ông 17 tuổi, vậy ta có thể cho rằng: Nguyễn Gia Trí sinh năm 1910. 4- Theo Những ngày vui, Nguyễn Gia Trí bỏ học hai lần, vì cãi nhau với giáo sư (Tardieu). Lần đầu, năm thứ hai (1928) và lần sau năm thứ ba (1929). Tổng cộng thời gian "học" là 9 năm, vậy ông nghỉ học 4 năm trong khoảng từ 1928 đến 1936, vì mỗi khóa trường Mỹ thuật là 5 năm. Như thế, vai trò của Nguyễn Gia Trí trong Tự Lực văn đoàn, không chỉ ở mức độ cộng tác thường xuyên mà còn ở chỗ khác nữa: có thể nhờ tiền bán tranh và sống độc thân, nên Nguyễn Gia Trí luôn luôn lo việc "kinh tài" cho Tự Lực văn đoàn và Quốc Dân Đảng. Trước tiên cho Phong Hóa, lúc mới thành lập, như Khái Hưng viết trong Những ngày vui. Rồi từ 1939-1940 ông mua và tích trữ vũ khí cho đảng Đại Việt Dân Chính, bị Pháp bắt quả tang để trong phòng vẽ, theo lời họa sĩ Hoàng Tích Chù[23]. Sau cùng, ông góp phần "nuôi" các đồng chí trong thời kỳ bôn ba ở Hương Cảng, những năm 1948-50, vẫn bằng hội họa của mình. Chân dung Nhất Linh Trong Những ngày vui, Nhất Linh xuất hiện sau Nguyễn Gia Trí, trong vai Phượng, khi in thành sách, đổi thành Phúc, có lẽ để tránh lầm với Phương, nhưng lại làm trệch ý Khái Hưng: đã cố ý đặt tên Phượng đi với Phương như hai giọt nước, giống Khái Hưng và Nhất Linh ở ngoài đời. Và đây là đoạn Phượng đến gặp Duy,"chủ nhiệm" báo Tự Động để bàn chuyện "mở báo": "- Chào ông chủ nhiệm. Duy nghĩ thầm: - Thôi chết tôi rồi. Ông này mà đến chơi thì chắc chắn là mất hết một buổi sáng nghe chuyện mở báo. (...) Duy rùng mình, lo sợ vì biết thế nào Phúc cũng đem cái kế hoạch mở báo ra nói cho mình nghe trong khoảng ít ra là một giờ đồng hồ. Ở Hà Nội, và ở tỉnh lỵ các thành phố Phúc đã đi qua, dễ trong hầu hết các giới trí thức, ít ai không một lần được nghe Phúc bàn về cái kế hoạch mở báo của chàng. Phúc là một vị giáo sư khoa học có giá trị tại trường trung học. Chàng đã tòng học bốn năm ở bên Pháp và đã đậu cử nhân khoa học. Về nước, chàng được bổ ngay giáo sư và lương tháng kể cũng khá cao, có lẽ đến gần ba trăm bạc. Nhưng trong thời kỳ học tập bên Pháp cũng như ngày nay trong thời kỳ dạy học, chàng chỉ chuyên nghiên cứu có một thứ báo chí. Chàng nói với hết thảy các bạn bè và những chỗ quen biết rằng nghề gõ đầu trẻ, chàng chỉ theo tạm, nghề chính của chàng là nghề viết báo, mở báo kia"[24] Và Phúc còn thao thao bất tuyệt về nghề báo trong sáu trang sách nữa. Phúc đích thị là Nhất Linh rồi: Giáo sư cử nhân mới ở Pháp về. Luôn luôn mơ tưởng việc làm báo và đi đâu cũng tuyên truyền việc lập báo. Mặc dù lương giáo sư khá cao, gần ba trăm bạc, nhưng Nhất Linh vẫn không đủ tiền để ra báo. Cuối cùng, phải nhờ đến số tiền 10.000 của Nguyễn Văn Tiên Leung Fat Fa, Nhất Linh mới có thể thực hiện được giấc mộng, kể từ Phong Hóa số 14.
Những thành viên đầu tiên của Tự Lực văn đoàn và Phong Hóa Theo sự sắp đặt nhân vật trong Những ngày vui, thì Nguyễn Gia Trí và Khái Hưng là hai người đầu tiên trong "nhóm" Tự Lực. Nhất Linh đến sau, việc này hư thực thế nào, khó biết được, mà cũng không quan trọng. Chỉ biết ba hạt nhân đầu của Phong Hoá là Khái Hưng, Gia Trí và Nhất Linh. Tự Lực văn đoàn đã manh nha trong thời gian từ tháng 6-1932 đến tháng 9-1932, nghiã là từ Phong Hóa số 1 (16-6-32) đến số 13 (8-9-32) cũng là thời kỳ chuẩn bị ra báo Phong Hóa số 14. Khi đọc kỹ Phong Hóa những số đầu, chúng ta sẽ thấy rõ hai thời kỳ này, đúng như Khái Hưng mô tả trong Những ngày vui: Từ số 1 đến số 13: Phong Hóa do Khái Hưng chủ trì. Từ số 14 trở đi, Nhất Linh tổ chức lại tờ báo (nhờ số tiền 10.000 đồng), mượn thêm nhiều người cộng tác, Nhất Linh làm Giám đốc. Nhưng hai thời kỳ này không hoàn toàn tách biệt, bởi vì ta thấy nhiều thành viên đã xuất hiện trên Phong Hóa ngay từ những số đầu: - Phong Hóa số 2 (23-6-32), có bìa tranh trừu tượng ký tên Đông Sơn bằng chữ Hán, bìa này giữ đến số 10 (18-8-32). Nếu Đông Sơn là Nhất Linh, thì không thể nói Nhất Linh chỉ "vào" Phong Hóa từ số 14, mà ông đã "vào" từ số 2. - Phong Hóa số 3 (30-6-32) có hý họa ký tên Đông Sơn, bằng chữ quốc ngữ. Như vậy, Nhất Linh đã "ở trong" Phong Hoá từ số 3. Ta phải hiểu như thế nào? Bởi vì, nếu Nhất Linh chỉ "vào" Phong Hóa từ số 14, như Nhất Linh và Tứ Ly viết trên Phong Hóa số 154, thì tranh bìa ký tên Đông Sơn bằng chữ Hán từ số 2 và hý họa ký tên Đông Sơn bằng quốc ngữ trong số 3, là của ai? Trừ khi Đông Sơn lúc đầu là Nguyễn Gia Trí?
Tranh bià Đông Sơn, ký chữ Hán, PH số 2 Tranh Đông Sơn ký chữ quốc ngữ trong PH số 3 Theo thiển ý, những điều Khái Hưng viết trong Những ngày vui đúng với sự thực hơn. Tóm lại, trừ khi có khám phá mới, chúng tôi tạm coi Đông Sơn là tên chung của Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh trong thời kỳ đầu. Đến khi nào thì tách riêng và trở thành tên của Nhất Linh? Đó là một câu hỏi chưa thể giải đáp. Về văn, Nhất Linh dường như không viết gì cho Phong Hóa từ số 1 đến số 13. Ông chính thức xuất hiện cùng với Tứ Ly (Hoàng Đạo), Tú Mỡ, và Thạch Lam (với bút hiệu TL) trên Phong Hóa số 14 (22-9-32), số báo chính thức của Tự Lực văn đoàn. Thế Lữ đến Phong Hóa số 27 (23-12- 32), mới chính thức xuất hiện, trước đó ông ký tên khác, sẽ nói đến sau. Tóm lại, theo tiểu thuyết Những ngày vui của Khái Hưng và nhìn qua những số báo Phong Hóa đầu tiên, ta có thể tạm kết luận: những thành viên làm báo Phong Hóa, từ số 1 đến số 13, là Khái Hưng và Nguyễn Gia Trí, lúc đó chắc chưa có ý định lập "văn đoàn" gì cả. Kể từ Phong Hóa số 14, có Nhất Linh, Hoàng Đạo, Tú Mỡ và Thạch Lam mới trở thành một nhóm hay một "văn đoàn" và tới số 27, có thêm Thế Lữ. Nhưng đây chỉ là kết luận tạm thời, sau khi khảo sát nội dung và hình thức những số báo Phong Hóa đầu tiên do Khái Hưng phụ trách (từ số 1 đến số 13), chúng tôi sẽ đưa ra một kết luận rõ ràng hơn. (Còn tiếp) [1] Trích bài: 22/9/32 Kỷ niệm ngày báo ra 22/9/35, tiểu đoạn Hai thời kỳ, in trên Phong Hóa số 154 (20-9-35), trang 2. [2] Tứ Ly, Bên đường dừng bước, Phong Hóa số 154, ra ngày 20-9-1935, trang 2-3. [3] Trích Sống Và Viết với... của Nguyễn Ngu Í, do Ngèi Xanh (chữ của Nguyễn Ngu Í) xuất bản năm 1966, tại Sài Gòn, Xuân Thu chụp và in lại tại Hoa Kỳ, không đề năm. [4] Bài hồi ký này in trong Tạp chí Văn học số 5-6/1988 và số 1/1989); in lại trong Tự Lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000, trang 125-158. [5] Ngày Nay số 16 (12-7-1936), trang 4. [6] Lạnh lùng đã in mấy trang đầu trên PH số 151 (31-8-1935), rồi ngừng. Nhất Linh cho in Đi Tây ký tên Lãng Du thay thế. Gần một năm sau, Lạnh Lùng xuất hiện lại trên Ngày Nay (từ số 16, 12-7-1936 đến số 37, 6-12-1936). [7] Lũng Thượng thuộc Yên Lạc, Vĩnh Yên, nơi có đồn điền của gia đình Đỗ Đình Đạo, một yếu nhân của Việt Nam Quốc Dân Đảng, bạn thân của Nhất Linh. [8] Những ngày vui, Phượng Giang 1958, trang 95-97. Chúng tôi trích bản in trong sách, vì bản này đã sửa chữa những lỗi chính tả. [9] Những ngày vui, bản Phượng Giang, trang 99. [10] Những ngày vui, bản Phượng Giang, trang 166. Bản in trên báo Ngày Nay số 29 (11-10-1936), ghi: "Bốn tháng sau, báo "Con Người" của bọn Phương, Duy ra đời". [11] Theo lời Trần Khánh Triệu (con nuôi Khái Hưng, con ruột Nhất Linh) trong bài Papa toà báo, in trên Thế Kỷ 21, số tưởng niệm Khái Hưng tháng 12-1997, in lại trong Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ, Nxb Thế Kỷ, California, 2004. [12] Những ngày vui, bản Phượng Giang, trang 112. [13] Ninh Giang thuộc tỉnh Hải Dương. [14] Chữ TCHYA có thuyết nói là Tôi Chẳng Yêu Ai. [15] Viễn Sơn Nguyễn Tường Bách, Tưởng nhớ Khái Hưng, Người bạn, Người anh thân mến, Nhà văn, Chiến sĩ cách mạng, in trong Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, cuốn 1, Hồn bướm mơ tiên, Nguyễn Thạch Kiên soạn, Nxb Phượng Hoàng, Hoa Kỳ, 1997, t. 157-158. [16] Những ngày vui, bản Phượng Giang, trang 14. [17] Những ngày vui, bản Phượng Giang, trang 15. [18] Những ngày vui, bản Phượng Giang, trang 94. [19] Đoạn này chúng tôi trích Ngày Nay số 16 (vì đó là bản gốc); bản Phượng Giang 1958, được sửa lại như sau: "Là vì học gần hết năm thứ hai và sau một cuộc cãi lý kịch liệt với ông giáo, Duy bỏ học. Nhưng ít lâu chàng lại xin vào lần thứ hai. Ông giáo vì mến tài nên bằng lòng. Nhưng đến năm thứ ba, được năm tháng, vì một điều chẳng quan hệ mấy, Duy lại bỏ học. Rồi ít lâu lại vào học. Lần sau cùng, Duy chính thức từ giã trường Mỹ Thuật, vì chàng trúng tuyển kỳ thi ra". Có lẽ đoạn in trong sách đúng với thực tại hơn: Nguyễn Gia Trí đã bỏ học, nhưng đi xem hội chợ, thấy tranh sơn mài của Trần Quang Trân lại quay trở về học tiếp sơn mài đến lúc ra trường năm 1936 (theo thư Nguyễn Gia Trí gửi Mai Thọ Truyền, in trong loạt bài Những lá thư Nguyễn Gia Trí gửi Phạm Tăng, trên mạng thuykhue.free.fr và vanviet.info). [20] Đoạn này cũng trích Những ngày vui, in trên Ngày Nay số 16. Bản Phượng Giang 1958, trang 7-9, có sửa vài chữ so với bản in trên báo. [21] Xem bài Những bức thư Nguyễn Gia Trí gửi cho Phạm Tăng, site: thuykhue.free.fr và vanviet.info [22] Lê Phổ trả lời phỏng vấn của Thụy Khuê trên RFI, in lại trong sách Lê Thị Lựu ấn tượng hoàng hôn, nxb Tổng Hợp TP HCM, Bảo tàng Mỹ Thuật TPHCM, 2018). [23] Trong bài Nguyễn Gia Trí, bậc đạo sư của sơn mài nghệ thuật của Hoàng Hưng, in trong sách Những người lao động sáng tạo, nxb Lao Động, 1998. [24] Những ngày vui, bản Phượng Giang 1958, trang 148-150.
|