Thụy Khuê

 Lịch sử truyền giáo và chữ quốc ngữ

Chương 11.6

Trương Vĩnh Ký (1837-1898)

VI- Tác phẩm

 

 

 

Vần đề văn bản Trương Vĩnh Ký

Ngày nay, nhờ Internet, tác phẩm của Trương Vĩnh Ký được truyền bá rộng rãi hơn trước, riêng Thư Viện điện tử của Hội Ái Hữu Petrus Trương Vĩnh Ký Úc châu (petruskyaus.net) lưu trữ gần đủ những cuốn sách chính của ông, vì vậy, việc nghiên cứu Trương Vĩnh Ký không còn nhiều trở ngại như trước.

Đối với chúng tôi, việc đầu tiên là phải tìm được một thư mục khả tín.

Có hai thư mục về Trương Vĩnh Ký đáng tin cậy, trước hết là Thư mục Trương Vĩnh Ký viết tay năm 1892, do giáo sư Nguyễn Văn Trung sưu tầm và chụp in trong cuốn Trương Vĩnh Ký nhà văn hóa[1] của ông, sau đến bản Inventaire des Livres et Manuscrits de J.B. Petrus Trương-Vĩnh-Ký (Bảng kê khai sách và bản thảo của Trương Vĩnh Ký) in trong cuốn tự điển Petit dictionnaire français-annamite à l'usage des écoles et des bureaux (Tiểu tự điển Pháp- Việt dùng trong trường học và văn phòng) của Trương Vĩnh Ký, in năm 1937[2] có thể đọc được trên mạng petruskyaus.net dưới tên: Danh mục sách của Trương Vĩnh Ký.

Giáo sư Nguyễn Văn Trung viết: «Sau năm 1892 đến 1898 (năm mất) Trương Vĩnh Ký còn làm thư mục năm 1896, hiện còn lưu trữ ở Thư viện Khoa Học Xã hội Sài gòn mà chúng tôi chưa coi được.[3]»

Theo thiển ý của chúng tôi, từ 1892 đến 1896, có lẽ Trương Vĩnh Ký không viết thêm nhiều (cuối đời ông bị bệnh lao) cho nên, nếu thư mục 1892, có thiếu sót, chắc cũng không đáng kể.

Jean Bouchot, trong thư mục in ở cuối cuốn Petrus J.B Truong Vinh Ky, un Savant et un Patriote Cochinchinois[4] có ghi thêm cuốn Biên tích Đức Thầy Vêrô giúp Đức Cao-Hoàng phục nghiệp, do nhà Claude & Cie in năm 1897. Và Nguyễn Đình Đầu, trong cuốn Trương Vĩnh Ký nỗi oan thế kỷ[5] chụp được ảnh bìa ba cuốn sách, in sau năm 1892, đó là:

Le précieux miroir du cœur [Minh Tâm Bửu Giám],1893, nxb Rey et Curiol.

Cours d'annamite parlé (vulgaire) [Nam Thoại học lệ], 1894, nxb Imprimerie Nouvelle.

Grand dictionnaire Français-Annamite [in dưới tên: Dictionnaire Française-Annamite, 1894 nxb Imprimerie Coloniale]. Ba tác phẩm này được Trương Vĩnh Ký ghi trong phần sách chưa in. Như vậy ta có thể tạm coi là đã bổ sung được phần nào sự thiếu sót trong Thư mục 1892.

Bản Inventaire des Livres et Manuscrits de J.B. Petrus Trương-Vĩnh-Ký (Danh mục sách của Trương Vĩnh Ký), chỉ in phần tiếng Pháp, bỏ số thứ tự Trương Vĩnh Ký ghi trong thư mục viết tay và lược đi mấy cuốn sách ghi hai lần.

Thư mục Trương Vĩnh Ký 1892 được viết bằng chữ Phápchữ Hán, thỉnh thoảng mới  ghi thêm chữ Việt. Điểm này ngăn cách ông với nhiều thế hệ sau này không đọc được hai thứ chữ nói trên. Chúng tôi ghi lại thư mục viết tay 1892 và làm một số việc sau đây:

1- Chép nguyên văn phần chữ Pháp đôi khi có vài câu quốc ngữ, năm xuất bản sách, (tất cả phần này sẽ in nghiêng, vì là nguyên bản).

2- Chúng tôi đưa thêm một số thông tin khác, không có trong thư mục (phần này in thẳng và để trong ngoặc [ ] như: tên tiếng Việt của cuốn sách do Trương Vĩnh Ký đặt, nếu có, hoặc chúng tôi dịch sang tiếng Việt, với đôi lời tóm tắt nội dung, vv...) để giúp độc giả có một ý niệm sơ sài về tác phẩm.

3- Trương Vĩnh Ký ghi 141 tên sách (ông đánh số từ 1 đến 141), nhưng ông đã nhảy từ số 90 đến số 100: tức là ông đếm nhầm 9 cuốn, nhưng Nguyễn Văn Trung không nhận ra. Rút cục, Trương Vĩnh Ký đánh tới số 141, nhưng thực sự chỉ có 132 tên sách. Chúng tôi đánh số lại, từ số 90 trở đi, đến số 132.

4- Chúng tôi tách thư mục này làm hai phần (bản chính của Trương Vĩnh Ký không tách):

Phần thứ nhất: những sách đã in, từ số 1 đến số 79, gồm 79 tựa đề. Phần này là chính.

Phần thứ hai: những sách chưa in, từ số 80 đến 132, gồm 53 tựa đề. Phần này là phụ, chép lại để làm tư liệu tham khảo. Những sách chưa in, chưa có người đọc, nên không thể coi là tác phẩm đã «chào đời» vì chưa có ảnh hưởng trong đời sống văn học.

5- Những sách đã in, được chia làm hai thể loại chính: Sách giáo khoa, đánh dấu hoa thị*, sách phiên âm chữ Nôm hoặc dịch từ chữ Hán đánh dấu #.

6- Sau cùng, chúng tôi kiểm tra những điểm lầm lẫn và đếm lại một lần nữa số sách đã in, và chưa in, để xác định con số gần gụi với thực tế hơn cả.

 

Dưới đây là Thư mục Trương Vĩnh Ký chép tay in trong sách Trương Vĩnh Ký nhà văn hóa của Nguyễn Văn Trung (trang 109-131).

Thư mục này chia làm chín đoạn, đánh số La Mã, xếp loại theo nhà xuất bản.  

 

 

(Trang 109, sách Trương Vĩnh Ký nhà văn hoá của Nguyễn Văn Trung)

Thư mục do chính Trương Vĩnh Ký viết tay năm 1892
Catalogue des ouvrages publiés et édités jusqu' à ce jour par P.J.B. TrươngvĩnhKý
(sic) à l'usage des Ecoles Indochinoises

[Thư mục những tác phẩm đã được P.J. B. Trương Vĩnh Ký cho in và truyền bá tới ngày nay, để dùng trong các trường học ở Nam kỳ]
Chợ quán (Nhân giang fz21)
1892

 

 

Phần thứ nhất: Những sách đã in

 

I- Ouvrages édités à l'Imprimerie du Gouvernement et par les soins de l'Administration

[Tác phẩm phát hành ở Nhà in của Chính phủ do nhà nước quản lý]

*1- Abrégé de grammaire annamite,1867 [Tóm lược văn phạm An Nam]

#2 - Contes annamites- Chuyện đời xưa, 1867

*3 - Cours pratique de langue annamite à l'usage du Collège des interprètes, 1868 [Bài giảng thực hành tiếng An Nam dùng trong Trường thông ngôn]

*4- Grammaire Française – Mẹo luật dạy tiếng Phangsa, 1872.

*5- Petit cours de Géographie de la Basse-Cochinchine, 1875 [Tiểu giáo trình Địa lý Nam kỳ]

#6- Poème Kim Vân Kiều transcrit pour la première fois en quốc ngữ avec des notes explicatives. Précédé d'un résumé succinct du sujet en prose et suivi de quelques pièces de vers relatives à la même histoire, 1875 [Thơ Kim Vân Kiều lần đầu chuyển sang chữ quốc ngữ với chú giải. Trước có tóm tắt hàm súc bằng văn xuôi về đề tài, sau có vài bài thơ liên quan tới truyện này]

*7- Cours d'histoire annamite, 2 volumes, 1875-1879. [Giáo trình lịch sử An Nam (2 quyển)]

*8- Manuel des écoles primaires - Syllabaire quốc ngữ- Histoire annamite- Histoire chinoise,  1876 [Sách giáo khoa bậc tiểu học (dạy học trò trường Hậu Bổ) - Vần quốc ngữ - Lịch sử An Nam- Lịch sử Trung Hoa]

*9- Histoire annamite en vers - Đại Nam Sử ký diễn ca, 1875 [phiêm âm sang quốc ngữ Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát, do Phạm Đình Toái biên tập]

*10- Cours de langue annamite autographiée, 1876 [Giáo trình tiếng Việt, in thạch bản]

*11- Cours de langue mandarine ou de caractères chinois autographié, 1875 [Giáo trình tiếng quan thoại hay chữ Hán, in thạch bản]

*12- Quatre livres classiques en caractères et en annamite autographiés, 1876 [Tứ thư, chữ Hán và chữ quốc ngữ, in thạch bản]

*13- Conférence sur le souvenir historique de Saigon et de ses environs, 1886 [Bài diễn thuyết về ký ức lịch sử Sàigon và các vùng phụ cận]

*14- Sơ học vấn tân autographié, 1877 [Sơ học vấn tân (nghiã là: kẻ mới học hỏi bến), in thạch bản, sách này của người Việt làm ra để dạy người mới học chữ Hán: giảng nghiã từng chữ, có thơ đi kèm để giúp trí nhớ)]

*15- Dictionnaire Français annamite (jusqu'au mot cheval), 1878 [Tự điển Pháp-Việt, tới vần c, chữ cheval]

 

II- Publications faites à l'Imprimerie Guilland et Martinon

[In ở nhà in Guilland et Martinon]

16- Voyage au Tonkin en 1876 - Chuyến đi ra Bắc kỳ năm Ất Hợi, 1881

#17-Retraite et apothéose de Trương Lương, 1881 [Trương Lương Tùng Xích Tòng Tử du phú]

#18- Apologie de Trương Lương- Trương Lưu hầu phú, 1882

#19- Saigon d'autrefois, 1882 [phiên âm chữ quốc ngữ và chú giải hai bài thơ, không rõ tác giả: Cổ Gia Định phong cảnh vịnh, và Gia Định thất thủ vịnh.]

#20- Saigon d'aujourd'hui, 1882 [phiên âm và chú giải bài Kim Gia Định Phong cảnh vịnh, thơ của Hai Đức ở Chợ Lớn, ca tụng cảnh Sài gòn từ khi Pháp đến.]

#21- Passe-temps- Chuyện khôi hài, 1882, 3 éditions [in 3 lần].

22- Evènements de la vie- Kiếp phong trần, 1882, 3 éditions [in 3 lần].

23- Fais ce que dois, advienne que pourra - Bất cượng, 1882 [Bất cượng. Chớ cượng làm chi]

24- Devoirs des filles et des femmes, 1882, 2 éditions [Nữ tắc, in 2 lần]

*25- Une mère à sa fille- Thơ mẹ dạy con, 1882, 2 éditions  [ in 2 lần, sách này do A. Chéon dịch sang tiếng Pháp]

*26- La bru- Thơ dạy làm dâu, 2 éditions, 1882, [in 2 lần]

*27- Défauts et qualités des filles et des femmes, 1882 [Huấn nữ ca]

*28- Guide de la Conversation Annamites - Sách tập nói chuyện tiếng Phangsa Annam, 1883 (2 éditions) [in 2 lần].

*29- Maître et élève sur la grammaire Française, 3 éditions, 1883 [Thầy trò bàn về luật mẹo tiếng Pháp, in 3 lần].

*30- Les convenances et les civilités annamites, 1881 [Phép lịch sự An Nam].

*31- Ecole domestique ou un père à ses enfants, 2 éditions, 1883 [Gia huấn ca, in 2 lần].

*32- Alphabet Quốc ngữ, 2 édition [Vần Quốc ngữ, in 2 lần].

#33- Proscription des Corbeaux - Bài hịch con quạ, 1883.

#34- Caprices de la fortune - Thạnh suy bỉ thời phú, 1883.

#35- Un lettré pauvre - Hàn nho phong vị phú, 1883.

*36- Grammaire de la langue annamite - Sách mẹo tiếng An Nam, 1884

*37- Tam tự kinh (en caractères avec transcription et traduction en annamite et en Français), 1884 [Tam tự kinh (chữ Hán, dịch sang quốc ngữ và chữ Pháp)].

*38- Répertoire pour les nouveaux étudiants- Sơ học vấn tân, 1884.

#39- Contes annamites, 2e édition, 1885 [Chuyện đời xưa, in lần thứ hai].

*40- Alphabet Français pour les annamites, 1885 [Phép đánh vần tiếng Lang sa cho người An Nam].

 

III- A l'imprimerie de la Mission à Tân Dinh

[In ở nhà Dòng Tân Định]

41- La dingue [dengue] Mắc cúm từ, 1884 [bài thơ kể chuyện dịch cúm năm Quí dậu (1873) làm chết nhiều người ở Nam Kỳ, không rõ tác giả, do A.Chéon dịch sang tiếng Pháp].

*42- Huấn mông ca (en caractères avec transcription et traduction en annamite et en Français) 1884 [sách chữ Hán với bản dịch quốc ngữ và chữ Pháp, dạy trẻ nhỏ học chữ nho, giải nghiã bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp].

*43- Petit dictionnaire Français-annamite, 1884 [Tiểu tự điển Pháp-Việt].

#44- Jeux et opium - Cờ bạc nha phiến, 1885.

#45- Le bucheron et le pêcheur, 1885 [Ngư tiều trường điệu].

 

IV- Cours autographiés au Collège des Interprètes en 1886

[Giáo trình in thạch bản ở trường Thông ngôn năm 1886]

*46- Cours de langue annamite aux Européens -Exercices-Thèmes et Versions, 1886 [Bài học tiếng Việt cho người Âu- Bài tập- Bài dịch Việt-Pháp, Pháp-Việt].

*47- Cours d'annamite aux élèves Européens. Explication du Lục Vân Tiên, 1886 [Bài học tiếng Việt cho học trò người Âu: Bài giảng Lục Vân Tiên].

*48- Cours de caractères chinois, 2e année - Explication de Mencius- Thèmes et versions- Explication des pièces officielles, 1887 [Bài học chữ Hán, năm thứ 2- Bài giảng về Mạnh Tử- Dịch (sang tiếng Pháp, Việt). Giảng nghiã những văn bản chính].

*49- Cours d'annamite aux élèves annamites-Explication du Lục Vân Tiên (không đề năm) [Bài học quốc ngữ cho học trò An Nam- Bài giảng Lục Vân Tiên].

*50- Cours d'annamite aux élèves Annamites- Prosodie et versification annamite, 1886 [Bài học quốc ngữ cho học trò An Nam- Âm luật và Niêm luật thơ An Nam].

*51- Cours d'annamite aux élèves annamites, Kim Vân Kiều en prose converti et commenté en langue vulgaire, 1886 [Bài học quốc ngữ cho học trò An Nam- Kim Vân Kiều chuyển sang văn xuôi và bình luận bằng tiếng thông tục].

*52- Cours d'annamite aux élèves annamites Hát lý hò Annam - Théâtres - Comédies - Chants et chansons annamites, 1886 [Bài học quốc ngữ cho học trò An Nam- Hát lý hò An Nam- Tuồng- Chèo- Ca dao].

 

V- A l'imprimerie Rey et Curiol

[In ở nhà in Rey et Curiol]

*53- Vocabulaire des mots usuels, noms techniques, scientifiques, termes administratifs, 1887 [Từ vựng thông dụng, danh từ kỹ thuật, khoa học, hành chính].

*54- Alphabet quốc ngữ, 4e édition, 1887 [Vần quốc ngữ, in lần thứ tư].

*55- Livre élémentaire de 3000 caractères usuels. Tam thiên tự, 1887 [Tam thiên tự giải âm tự học toát yếu (sách cơ bản 3000 chữ thông dụng)].

*56- Résumé sommaire de la chronologie, de l'histoire et de productions de l'Annam avec tableaux synoptiques - Ước lược sự tích nước Nam, 1887.

*57- Miscellanées ou Lectures instructives pour les élèves des écoles primaires, communales, cantonales et les familles, 1888-1889 [Thông Loại Khóa Trình hay Tạp lục cho học trò tiểu học, làng xã, tổng và gia đình, ra được một năm rưỡi,18 số].

*58- Les quatre livres classique en caractères chinois et en annamite, 1889 [Tứ Thư chữ Hán và chữ quốc ngữ] Grande étude – no1, 1889 [Đại học, quyển 1] Invariable milieu - no 2, 1890 [Trung dung, quyển 2]

 

VI- A l'imprimerie de la Mission

[In ở nhà in Giáo xứ]

*59- Précis de géographie, 1887 [Địa dư yếu lược]

#60- Les six animaux domestiques - Lục súc, 1887

#61- Dispute de mérite entre les six animaux domestiques - Lục súc tranh công, 1887

 

VII- A l'imprimerie Any Bock

(In ở nhà in Any Bock)

#62- Poèmes populaires, no1-  Lục Vân Tiên truyện, 1889

#63- Chuyện đời xưa- Contes annamites, 1888

#64- Poème populaire - Phan Trần truyện, 1889

#65- Poème populaire- Kim Vân Kiều truyện, 1889

 

VIII- Autographie à la maison 1890-1891-1892

[In thạch bản tại nhà, 1890- 1891-1892]

*66- Cours de Cambodgien, 1890 [Giáo trình tiếng Cao Miên]

*67- Cours de Siamois, 1889 [Giáo trình tiếng Xiêm La]

*68- Grand dictionnaire Annamite-Français (épreuves de premières feuilles), 1889 [Đại tự điển Việt- Pháp (Bản in thử những trang đầu)]

*69- Vocabulaire  du Cours d'annamite, 1890 [Ngữ vựng cho Giáo trình tiếng Việt]

*70- Vocabulaire du Cours de Caractères chinois, 1890 [Ngữ vựng cho Giáo trình chữ Hán]

*71- Cours de la littérature chinoise, 1891 [Giáo trình văn chương chữ Hán]

*72- Cours de la littérature annamite, 1891 [Giáo trình văn chương An Nam]

*73- Programme général des Écoles annamites, 1891 [Chương trình đại cương cho các trường An Nam]

74- Modèles de pièces officielles et administratives, 1891 [Mẫu đơn chính thức, công sở]

75-Catalogue des ouvrages publiés jusqu'à ce jour par Trương Vĩnh Ký, 1892 [Thư mục những tác phẩm đã in tới ngày nay [1892] của Trương Vĩnh Ký]

76- Généalogie de la Famille P. Trương Vĩnh Ký, 1891 [Gia phả gia đình P. Trương Vĩnh Ký]

77- Sĩ viện gia-thảo, 1891-1892

*78- Sách tên chữ nho, [Đại Nam tam thập nhất tỉnh địa đồ] 1889.

*79- Sách tên chữ nho [Đại Nam tam thập nhất tỉnh thành đồ] 1888.

 

Đến đây chấm dứt Phần thứ nhất: Những sách đã in (với tên nhà xuất bản và năm in), tổng cộng 79 tựa, nhưng soát lại, chúng tôi thấy có hai trường hợp sai lầm cần nêu ra:

1- Lầm thứ nhất: 5 tên sách được chép hai hoặc ba lần trong thư mục:

Chuyện đời xưa, ghi ba lần:

Số 2 - Contes annamites- Chuyện đời xưa, 1867

Số 39- Contes annamites, 2e édition, 1885

Số 63- Chuyện đời xưa- Contes annamites, 1888

Nghi vấn: Chuyện đời xưa, số 63, in ở nhà in Any Bock, có phải là Chuyện đời xưa, Contes plaisants annamites (Truyện vui An Nam), do Abel des Michels dịch lần đầu sang tiếng Pháp, do nhà xuất bản Ernest Leroux in tại Paris năm 1888 không?     

Kim vân  Kiều, ghi hai lần:

Số 6- Poème Kim Vân Kiều transcrit pour la première fois en quốc ngữ, 1875

Số 65- Poème populaire- Kim Vân Kiều truyện, 1889

Tứ thư, ghi hai lần:

Số 12- Quatre livres classiques en caractères et en annamite autographiés, 1876

Số 58- Les quatre livres classique en caractères chinois et en annamite, 1889

Sơ học vấn tân, ghi hai lần:

Số 14- Sơ học vấn tân autographié, 1877

Số 38- Répertoire pour les nouveaux étudiants- Sơ học vấn tân, 1884

Tự điển Pháp Việt, ghi ba lần:

Số 15- Dictionnaire Français annamite (jusqu'au mot cheval), 1878 [tới vần c, chữ cheval]

Số 43- Petit dictionnaire Français-annamite, 1884 [Tiểu tự điển Pháp-Việt]

Số 68- Grand dictionnaire Annamite-Français (épreuves de premières feuilles), 1889 [Đại tự điển Việt- Pháp (Bản in thử những trang đầu)]

Trong ba bản tự điển này chỉ có bản số 43 là hoàn chỉnh, số 15 chỉ mới soạn đến vần c, và số 68, in thử mấy trang đầu.

Vần quốc ngữ, ghi hai lần:

Số 32- Alphabet Quốc ngữ, 2e édition.

Số 54- Alphabet quốc ngữ, 4e édition, 1887.

 

2- Lầm thứ hai: Có hai văn bản do A. Chéon dịch, đề tên Trương Vĩnh Ký:

Số 25- Une mère à sa fille - Thơ mẹ dạy con, 1882 [A. Chéon dịch sang tiếng Pháp]

Số 41- La dengue - Mắc cúm từ, 1884 [ A.Chéon dịch sang tiếng Pháp].

Nếu loại đi 8 văn bản ghi hai, hay ba lần; và 2 văn bản do A. Chéon dịch, con số những văn bản đã in của Trương Vĩnh Ký sẽ là 69.

Trong số 69 tựa sách này có:

- 46 sách giáo khoa (gồm hai loại: dạy các thứ tiếngdạy đạo đức làm người) chúng tôi đánh dấu*.

- 16 văn bản phiên âm thơ văn chữ Nôm ra quốc ngữ hoặc dịch tác phẩm cổ điển chữ Hán ra quốc ngữ, cũng để dạy học, chúng tôi đánh dấu #, gồm có: (Chuyện đời xưa (1867); Kim Vân Kiều (1875), Trương Lương tùng xích tòng tử du phú (1881), Trương Lưu hầu phú (1882), Saigon d'autrefois (1882); Saigon d'aujourd'hui (1882); Chuyện khôi hài (1882); Bài hịch con quạ (1883), Thạnh suy bỉ thời phú (1883), Hàn nho phong vị phú (1883), Cờ bạc nha phiến (1885), Ngư tiều trường điệu (1885), Lục súc (1887), Lục súc tranh công (1887), Lục Vân Tiên truyện (1889), Phan Trần truyện (1889).

- 3 sáng tác: 1 bài tạp bút: Chuyến đi ra Bắc kỳ năm Ất Hợi (1881) và 2 kịch bản: Kiếp phong trần (1882) và Bất cượng. Chớ cượng làm chi (1882).

- 4 văn bản linh tinh khác:

Mẫu đơn chính thức cho công sở (1891)

Thư mục những sách đã in tới năm 1892 của Trương Vĩnh Ký (1892)

Gia phả gia đình Trương Vĩnh Ký  (1891)

Sĩ viện gia thảo (1891-1892)

 

Phần thứ hai: Những sách chưa in (không đề tên nhà xuất bản và năm in)

-80 Sách tên chữ nho [Minh tâm điều biện đáp cú].

-81 Sách tên chữ nho [Văn hành lược thuật].

-82 Sách tên chữ nho [Thiếp thức vựng biên].

-83 Sách tên chữ nho [Tục thoại thập di].

-84 Mẹo chữ nhu - Grammaire de la langue chinoise.

-85 Grammaire annamite en annamite – Mẹo tiếng An Nam.

-86 Sách tên chữ nho [Chỉ thiện tùng thuyết][6]

-87 Phép văn thi Annam, autographié en 1886 [in thạch bản năm 1886]

-88 Langue de la cour en Extrême-Orient  [Ngôn ngữ trong triều đình ở Viễn Đông] 

-89 Cours de langue Tamoule [Giáo trình tiếng Tamoul (Nam Ấn Độ và Sri-Lanka)]

-90 Vocabulaire Français- Tamoul [Từ vựng tiếng Pháp và tiếng Tamoul] 

-91 Guide de conversation Tamoul-Français [Hướng dẫn đàm thoại tiếng Tamoul-Pháp]

-92 Cours de langue Indoustane [Giáo trình tiếng Ấn Độ]

-93 Vocabulaire Français- Indoustan [Từ vựng Pháp- Ấn]

-94 Guide de conversation Indoustan- Français [Đàm thoại Pháp- Ấn]

-95 Cours de langue Birmane [Giáo trình tiếng Miến Điện]

-96 Vocabulaire Français- Birman [Từ vựng Pháp- Miến]

-97 Guide de conversation Birman-Français [Đàm thoại Pháp- Miến]

-98 Cours de Ciampois [Giáo trình tiếng Chàm]

-99 Vocabulaire Français- Ciampois [Từ vựng Pháp-Chàm]

-100- Guide de conversation Ciampois-Français [Đàm thoại Pháp-Chàm]

-101 Cours de langue Laotienne [Giáo trình tiếng Lào]

-102 Vocabulaire Français-Laotien [Từ vựng Pháp-Lào]

-103 Guide de conversation Laotien-Français [Đàm thoại Lào-Pháp]

-104 Cours de langue Malaise [Giáo trình tiếng Mã Lai]

-105 Vocabulaire Français- Malais [Từ vựng Pháp-Mã].

-106 Guide de conversation Malais-Français [Đàm thoại Pháp - Mã]

-107 Vocabulaire Français- Cambodgien [Từ vựng Pháp- Mên]

-108 Guide de conversation Cambodgien- Français [Đàm thoại Pháp -Mên]

-109 Vocabulaire Français- Siamois [Từ vựng Pháp -Xiêm]

-110 Guide de conversation Siamois-Français [Đàm thoại Pháp-Xiêm]

Xin chú ý: cuốn số 87- Phép văn thi Annam, autographié en 1886, đã in thạch bản năm 1886.

 

IX- À publier en 1892 et à la suite [Sách để in năm 1892 và sau đó]

111 Le précieux miroir du cœur [Minh Tâm Bửu Giám, in năm 1893, nxb Rey et Curiol)]

112 Cours de Géographie de l'Indochine avec cartes générales et particulières, en 6 parties: La Cochinchine Française, l'Annam central, Le Tonkin, Le Cambodge, Le Siam et La Birmanie. [Giáo trình Địa dư Đông Dương với bản đồ chung và riêng, chia làm 6 phần: Nam kỳ thuộc Pháp, miền trung An Nam, Bắc kỳ, Cao Mên, Xiêm-La và Miến-Điện].

113 Cours d'annamite parlé (vulgaire) [Giáo trình tiếng nói (thông tục) Annam tức Nam Thoại học lệ, in năm 1894, nxb Imprimerie Nouvelle].

114 Cours d'annamite écrit (mandarin ou de caractères chinois) [Giáo trình chữ viết Annam, bằng quan thoại hay chữ Hán].

115 Quatre livres n0 3 Mencius [Tứ thư, quyển 3: Mạnh Tử].

116 Quatre livres, n0 4: Entretiens de Confucius avec ses disciples [Tứ thư, quyển 4: Khổng Tử nói chuyện với học trò].

117 Grand dictionnaire Français-Annamite [in năm 1894, với tên: Dictionnaire Français-Annamite (Tự điển Pháp-Việt), nxb Imprimerie Coloniale].

118 Grand dictionnaire Annamite-Français [Đại tự điển Việt- Pháp].

119 Grand dictionnaire Chinois-Annamite-Français [Đại tự điển Hoa-Việt-Pháp].

120 Annam politique et social [An Nam, chính trị và xã hội].

121 Dictionnaire biographique annamite ou De viris illustribus imperii annamitici [Tự điển tiểu sử An Nam].

122 Flore annamite [Thảo mộc An Nam].

123 Dictionnaire géographique annamite [Tự điển địa lý An Nam] 

124 Produits de l'Annam [ Sản phẩm An Nam]

125 Les droits de l'Annam dans la vallée du Mékong (Mémoire sur) [Quyền lợi của người An Nam trong thung lũng sông Cửu Long (Luận trình)].

126 Etude comparée sur les langues, les écritures, les croyances et les mœurs de l'Indochine.[Nghiên cứu so sánh tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng và phong tục ở Đông Dương]

127 Recueil de chansons populaires annamites [Sưu tập hát hò An Nam]

128 Recueil d'oraisons funèbres annamites [Sưu tập văn tế An Nam]

129 Recueil de pièces de théâtre... annamites [Sưu tập tuồng chèo... An Nam]

130 Sujets historiques des poèmes annamites [Những chủ đề lịch sử trong thơ An Nam]

131Combinaisons des systèmes conventionnels dés écritures idéographiques, hiéroglyphiques, phonétiques et alphabétiques. [Kết hợp các hệ thống quy ước trong chữ viết tượng hình, tượng hình Ai cập cổ, viết theo ngữ âm, và theo mẫu tự La- tinh].

132 Etude comparée des écritures et des langues des trois branches linguistiques.[Nghiên cứu so sánh chữ viết và tiếng nói trong ba ngành ngôn ngữ học].

 

Đến đây chấm dứt Thư mục Trương Vĩnh Ký viết tay 1892.

 

Xin lưu ý độc giả:

- Chữ viết tượng hình diễn ý (idéographique) nói đến ở đây là chữ Hán; chữ cổ Ai cập (hiérogliphiques) viết bằng hình; chữ viết diễn âm (phonétique) là chữ Xiêm, Lào, Miên, Miến Điện... và chữ Nôm; chữ viết theo mẫu tự La-tinh (alphabétique) là chữ quốc ngữ.

- Ba cuốn sách đánh số 126, 131 và 132, trong tựa đề đều có những danh từ gợi đến ngôn ngữ học hiện đại, nên đã xẩy ra một số lầm lẫn quan trọng, sẽ nói đến ở dưới.     

- Cuốn sách đánh số 87 Phép văn thi Annam, autographié en 1886, đã in thạch bản năm 1886.

Số 111 Minh tâm bửu giám, in năm 1893.

Số 113 Cours d'annamite parlé (vulgaire) [Nam Thoại học lệ], in năm 1894.

Số 117 Grand dictionnaire Français-Annamite, in năm 1894 với tên: Dictionnaire Français-Annamite.

Như vậy, có thêm 4 văn bản in sau năm 1892. Tổng cộng: 73 văn bản đã in 47 văn bản chưa in. Và cũng xin nhắc lại rằng: Văn bản Chuyện đời xưa, số 63 trong thư mục, ghi in năm 1888, có thể lẫn lộn với Chuyện đời xưa, Contes plaisants annamites, traduits en Français pour la première fois par Abel des Michels, professeur à l'école spéciale des langues orientales vivantes (Chuyện đời xưa, Truyện vui An Nam, do Abel des Michels, giáo sư trường Sinh ngữ Đông phương dịch sang tiếng Pháp lần đầu tiên) và nhà xuất bản Ernest Leroux in ở Paris năm 1888. (Văn bản này có thể đọc trên: petruskyaus.net).

     

Kết luận

Thư mục Trương Vĩnh Ký viết tay năm 1892 phản ảnh khá rõ những thăng trầm trong đời ông:

Từ năm 1866 đến 1886, trong hai mươi năm được Pháp trọng dụng, sách ông được họ in hoặc trợ cấp cho in:

- Bắt đầu với Imprimerie du Gouvernement (Nhà xuất bản chính phủ) từ cuốn số 1 tới số 15; Nxb Guilland et Martinon, từ số 16 đến số 40; Nhà Dòng Tân Định, từ số 41 đến số 45; In thạch bản tại trường Thông ngôn năm 1886, từ số 46 đến 52.

Từ năm 1886, Trương Vĩnh Ký theo Paul Bert. Cuối năm 1886, Paul Bert từ trần, ông bị Paul Vial sa thải, bãi lương và chức tước, chỉ còn chân giáo học ngôn ngữ Đông phương. Từ đó, ông phải tự túc in sách:

Ở nhà in Rey et Curiol từ số 53 đến số 58. Nhà in Giáo xứ từ số 59 đến số 61. Nhà in Any Bock, từ số 62 đến số 65. Các năm 1890-1891-1892, in thạch bản tại nhà, từ số 66 đến 79.

Theo nhật ký của ông, những năm cuối đời ông còn nợ tiền nhà xuất bản Rey et Curiol. Như vậy, kể từ năm 1893 trở đi, tuy ông không còn phương tiện để in sách nữa, nhưng ông vẫn tiếp tục viết (từ số 80 cho đến số 132). Những văn bản từ số 88 đến 110, có lẽ chỉ là giáo trình những tiếng phương Đông, ông soạn ra để dạy tư cho người Pháp, những năm cuối đời.

 

Tổng kết số sách đã in và chưa in của Trương Vĩnh Ký

Người đếm số sách của Trương Vĩnh Ký sớm nhất được Phạm Thế Ngũ ghi lại là «Ông Long Điền trong số báo Tri Tân (số 44 ngày 28-4-1941) có làm bản lược kê «Những sách của cụ Trương Vĩnh Ký» và đếm được con số 118».[7]

Con số này cũng không sai, có lẽ để chỉ toàn bộ sách đã inchưa in, và chưa loại những sai lầm của Trương Vĩnh Ký trong bản thư mục viết tay. Về sau người ta thường chép lại con số 118 này [Khổng Xuân Thu (1957), Bằng Giang (1994)]. Nguyễn Đình Đầu cũng dùng con số 118, nhưng chụp được hình 30 bìa sách trong số 55 bìa sách đã in.[8]  

Tóm lại, như trên dã nói: thư mục Trương Vĩnh Ký viết tay ghi 141 tên sách nhưng ông đã nhảy từ số 90 đến số 100: tức là ông đếm nhầm 9 cuốn. Vậy tổng cộng Trương Vĩnh Ký chỉ ghi có 132 tên sách. Trong con số 132 này có 79 tên sách đã in, vì ghi rõ tên nhà xuất bản và năm in; phần còn lại là 53 bản thảo chưa in, vì không có tên nhà xuất bản và năm in.

Chúng tôi kiểm tra lại những điểm sai lầm trong thư mục 1892, loại nhưng sách đếm hai lần, cùng cuốn Chuyện đời xưa do Abel des Michels dịch sang tiếng Pháp và 2 cuốn do Chéon dịch, đưa thêm bốn tác phẩm in sau năm 1892 vào, và xin xác định:

Trương Vĩnh Ký có 73 tựa sách đã in. 47 văn bản chưa in.

Đối với người nghiên cứu, chỉ phần sách đã in đáng chú ý, phần sách chưa in, tức là chưa có người đọc, chưa có tác dụng gì trong đời sống văn học.

Ngoài ra, những sách đã in này, có nhiều bản chỉ là một bài diễn văn, hoặc một bài văn, bài thơ, dăm ba trang, được Trương Vĩnh Ký sưu tầm và phiêm âm ra quốc ngữ, nên cũng cần phải tương đối hóa tầm quan trọng của nhiều văn bản trong thư mục Trương Vĩnh Ký.

 

Trương Vĩnh Ký, người thày dạy học

Thư mục Trương Vĩnh Ký viết tay 1892, cho thấy hầu hết sách của ông (đã in và chưa in) đều là sách giáo khoa, viết tiếng Pháp. Có hai phần chính:

1- Văn phạm học

2- Sử địa học.

Trương Vĩnh Ký dạy học bằng hai phương pháp đan cài:

- Dạy chữ: quốc ngữ, chữ Pháp và chữ nho.

- Dạy đạo đức, luân lý: bằng đạo nho.

Theo ông, chữ là phương tiện chuyên chở đạo đức làm người, và ông đã viết rõ trong Lời Dẫn sách Sơ học vấn tân, như sau:

«Học thì chẳng phải là học cho biết chữ, cho thuộc tiếng nói mà thôi, mà lại phải học nghiã lý, phép tắc, lễ nghi, cang thường, luân lý, là giềng mối mà xử trí trong việc ăn ở trong đời với thiên hạ»

Sách giáo khoa của ông gồm có những loại sau đây:

- Dạy tiếng Việt (chữ quốc ngữ) viết bằng tiếng Pháp.

- Dạy tiếng Pháp, viết bằng tiếng Việt.

- Dạy chữ Hán, viết bằng cả hai thứ tiếng Việt, Pháp.

- Dạy một số tiếng phương Đông, chỉ viết tiếng Pháp (loại này chưa in).

- Sách sử địa, viết tiếng Pháp, để dạy trong các trường tiểu học ở Nam kỳ, vì trẻ con ở Nam Kỳ học tiếng Pháp từ nhỏ.

- Sưu tầm Chuyện đời xưa, là những truyện cổ dễ đọc, dễ hiểu, phiên âm sang quốc ngữ, dùng làm bài học trong sách dạy văn phạm. Và cho học trò tập đọc tiếng Việt.

- Phiên âm sang quốc ngữ và chú giải các tác phẩm chữ Nôm như Đại Nam quốc sữ diễn ca, để dạy lịch sử Việt và phiên âm Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần để dạy văn chương Việt. Tên sách bộc lộ điều đó:

Số 49- Cours d'annamite aux élèves annamites-Explication du Lục Vân Tiên [Bài học quốc ngữ cho học trò An Nam- Bài giảng Lục Vân Tiên].

Số 50- Cours d'annamite aux élèves Annamites- Prosodie et versification annamite, 1886 [Bài học quốc ngữ cho học trò An Nam- Âm luật và Niêm luật thơ An Nam].

Số 51- Cours d'annamite aux élèves annamites, Kim Vân Kiều en prose converti et commenté en langue vulgaire, 1886 [Bài học quốc ngữ cho học trò An Nam- Kim Vân Kiều chuyển sang văn xuôi và chú giải bằng tiếng thông tục].

Trong địa hạt giáo dục, phần thành công nhất và quan trọng nhất của ông là phiên âm, dịch và chú giải (sang chữ quốc ngữ và chữ Pháp) những sách cơ bản dạy chữ Hán và dạy đạo làm người, như cuốn Sơ học vấn tân (kẻ mới học hỏi bến) là sách dạy chữ nho, của người Việt; cùng các sách học chữ nho và đạo đức vỡ lòng khác như Tam tự kinh, Tam thiên tự, Tứ thư, Minh Tâm Bửu Giám, của người Trung Hoa.

 

Cuốn sách đầu tiên được chính quyền thuộc địa in và bảo lãnh

Cuốn sách đầu tiên của Trương Vĩnh Ký được in ra là Abrégé de grammaire annamite (Sách mẹo An Nam) in năm 1867; cuốn thứ hai là Chuyện đời xưa, in năm 1867 và cuốn thứ ba Cours pratique de langue annamite à l'usage du Collège des interprètes [Bài giảng thực hành tiếng An Nam dùng trong Trường thông ngôn] in năm 1868, là ba tác phẩm chủ yếu cho việc dạy học của Trương Vĩnh Ký:

- Abrégé de grammaire annamite (Sách mẹo An Nam) là cuốn văn phạm tiếng Việt nhập môn.

- Chuyện đời xưa là sách tập đọc, dùng làm bài giảng tiếng Việt.

- Cours pratique de langue annamite (Bài giảng thực hành tiếng An Nam) có 8 bài học, cũng là 8 truyện rút ra trong cuốn Chuyện đời xưa.

Hơn mười năm sau, ông tập hợp những sách văn phạm và từ vựng đã in rải rác từ năm 1867, đào sâu thành cuốn Grammaire de la langue annamite- Sách mẹo tiếng An Nam, in năm 1883 [trong Thư mục ghi 1884], đây là là tác phẩm chính về văn phạm tiếng Việt của Trương Vĩnh Ký.

Những sách dạy chữ quốc ngữ của ông đều viết bằng tiếng Pháp, nên chỉ phổ biến được trong địa hạt Nam Kỳ, là nơi tiếng Pháp được dạy ở trường tiểu học từ 1864. Vì thế, sau này, Trương Vĩnh Ký đã dịch cuốn Grammaire de la langue annamite- Sách mẹo tiếng An Nam sang chữ quốc ngữ với tựa đề: Grammaire annamite en annamite – Mẹo tiếng An Nam viết bằng tiếng An Nam (số 85 trong thư mục), để người Việt ngoài Nam kỳ có thể đọc được. Nhưng bản dịch này hình như không được in ra, cho nên, tất cả những tinh hoa của người thầy đầu tiên viết sách dạy chữ quốc ngữ, bằng tiếng Pháp, nên đã không phổ biến được ở Trung và Bắc. Có thể vì thế mà: người trong Nam được học chữ quốc ngữ trước, có tờ báo quốc ngữ đầu tiên là Gia Định Báo (1865-1909) mà nền văn học quốc ngữ, trừ trường hợp Hồ Biểu Chánh, lại được xây dựng ở Bắc, qua Đông Dương tạp chí (1913-1919) với Nguyễn Văn Vĩnh, rồi qua Nam Phong tạp chí (1917-1934) với Phạm Quỳnh, đến Tự lực văn đoàn (1933-1946). Có lẽ vì phần lớn người dân Nam, đã theo con đường Trương Vĩnh Ký: chấp nhận sự lệ thuộc Pháp là tất yếu của lịch sử, thượng tôn văn hóa Pháp là «tối ưu», nên chỉ dùng tiếng Pháp, sính Pháp đến nỗi Thư mục Trương Vĩnh Ký cũng ghi bằng tiếng Pháp, kể cả các cuốn sách ông viết thuần tiếng Việt. Sự sính Pháp bao trùm Nam kỳ, khiến nhiều gia đình trở nên «mất gốc», đặt tên con theo lối Tây. Và sâu xa hơn, nghịch lý hơn, là đất Nam kỳ đã không có một nền Quốc học quốc ngữ phồn vinh như đất Bắc.

 

Phân loại sách đã in trong Thư mục 1892

Chúng tôi tạm chia những sách đã in trong Thư mục 1892, làm 4 phần:

I- Giáo trình: do Trương Vĩnh Ký soạn, gồm có ba loại:

1- Sách văn phạm từ vựng: Tác phẩm trong Thư mục 1892, phần lớn đều là sách văn phạm (grammaire) hoặc từ vựng (vocabulaire), viết bằng tiếng Pháp, cho người mới học.

2- Sách lịch sử: 3 cuốn: Cours d'histoire annamite (Giáo trình lịch sử An Nam) (1875-1879) viết tiếng Pháp, và Biên tích Đức Thầy Vêrô giúp Đức Cao-Hoàng phục nghiệp (1898), viết tiếng Việt, cả hai cuốn này đều có những sai lầm trầm trọng, sẽ được bàn đến kỳ tới.

Cuốn thứ ba Résumé sommaire de la chronologie, de l'histoire et de productions de l'Annam avec tableaux synotiques - Ước lược sự tích nước Nam, viết tiếng Việt, loại sách giúp trí nhớ, ghi niên đại lịch sử Việt Nam từ thời tiền sử. Nhưng đặc điểm nằm ở chỗ khác: ông sưu tầm được hai bài thơ cổ Hải môn ca, kể tên các cửa biển từ nam sông Gianh đến địa giới nam Chiêm Thành. Và bài Thủy triều ca, ghi lại những ngày giờ thuỷ triều dâng lên, rút xuống, trong năm.

3- Sách địa lý: gồm 4 tác phẩm:

- Cuốn Petit cours de géographie de la Basse-Cochinchine (Tiểu giáo trình địa lý Nam kỳ), biên chép sơ lược địa thế miền Nam, tên các địa danh lớn nhỏ và chính sách hành chánh áp dụng ở Nam kỳ thời Pháp thuộc.

- Bài Conférence sur le souvenir historique de Saigon et de ses environs, 1886 (Bài diễn thuyết về Ký ức lịch sử Sàigon và các vùng phụ cận) có sai lầm lớn khi xác định Olivier de Puymanel xây thành Gia Định dưới thời Gia Long, điều này cũng sẽ được bàn lại, kỳ tới.

- Và hai cuốn sách tên chữ nho: Đại Nam tam thập nhất tỉnh địa đồ (1889) Đại Nam tam thập nhất tỉnh thành đồ (1888), không rõ nội dung như thế nào.

 

II- Phiên âm chữ Nôm và dịch sách chữ Hán sang chữ quốc ngữ (đôi khi dịch sang tiếng Pháp)

Ở trên, chúng tôi đã lựa ra 16 văn bản phiên âm hoặc dịch, sau đây: Chuyện đời xưa, Kim Vân Kiều, Trương Lương tùng xích tòng tử du phú, Trương Lưu hầu phú, Saigon d'autrefois, Saigon d'aujourd'hui, Chuyện khôi hài, Bài hịch con quạ, Thạnh suy bỉ thời phú, Hàn nho phong vị phú, Cờ bạc nha phiến, Ngư tiều trường điệu, Lục súc, Lục súc tranh công, Lục Vân Tiên, Phan Trần.

Trương Vĩnh Ký phiên âm những truyện xưa sang chữ quốc ngữ với dụng ý để dạy chữ và giáo dục luân lý. Trong lời mở đầu tập Chuyện đời xưa, ông viết: «Kêu rằng: Chuyện đời xưa, vì nó là những chuyện kẻ lớn trước ta bày ra để mà khen sự tốt, chê sự xấu cho người ta sửa cách ăn nết ở cho tử tế», mục đích của ông khác hẳn với mục đích của Abel des Michels khi dịch tập Chuyện ngày xưa sang tiếng Pháp, sẽ nói đến ở dưới.

Riêng cuốn Saigon d'autrefois, tên Việt là Cổ Gia Định phong cảnh vịnhGia Định thất thủ vịnh là tên hai bài thơ Nôm, được ông chép sang quốc ngữ và chú giải, trong có chuyên chở tâm sự thầm kín của ông.

Bài thứ nhất tựa đề Gia Định Vịnh, ông giới thiệu và nhận định như sau: «Cái điệu vịnh Gia Định, không rõ ai làm, làm có đối đáp, song quan, cách cú, hạt tất đủ, nói về địa cảnh đất Sài gòn, thủa trước Tây (Phú Lang Sa) chưa lấy, bát nội Bến thành, Chợ sỏi, vô tới Chợ lớn, Chợ gạo, Lô-gôra, Cây gõ, Phúc lâm, Cầu Bông, Thị Nghè, Gò vấp. Đường sá, xóm làng, nhà cửa phố phường; chùa miễu; lại thú người trên bộ dưới thuyền đủ cả. Nói cho đến người Tây, Mô-rô tầu bè các nước tới lui buôn bán thủa ấy nữa». Đúng như lời giới thiệu trên đây, bài thơ kể lại lịch sử và cảnh Sài gòn, khi Pháp chưa chiếm, có nhiều thông tin giá trị, và cho thấy tâm cảm nuối tiếc Gia Định xưa của Trương Vĩnh Ký.

Bài thơ thứ hai, tựa đề Gia Định thất thủ vịnh, không rõ tác giả, mở đầu bằng hai câu:

«Thương thay đất Gia Định!

Tiếc thay đất Gia Định!»

Lời lẽ bi ai, hùng tráng, uất hận:

«Tan nát cửa nhà, trời dậy sấm.

Ynh ỏi súng rén kinh cửa bắc,

hãi hùng trăm họ dập âu ca»

Nhà thơ mắng loài cẩu trệ cướp nước: «quân mọi rợ lẫy lừng nên quá lắm».

Việc in bài thơ này, chứng tỏ không phải lúc nào Trương Vĩnh Ký cũng cúi đầu thần phục kẻ xâm lược.

Những văn bản phiên âm hoặc phóng tác khác, như: Bài hịch con quạ, Thạnh suy bỉ thời phú, Cờ bạc nha phiến, Ngư tiều trường điệu... đều có ý dạy đạo đức sống ở đời, lấy trong sách xưa hoặc phóng tác theo sách xưa, có nhiều đoạn văn biền ngẫu, đọc như câu đối, ngày nay chỉ còn giá trị lịch sử.

 

III- Sáng tác

Có một bài ký: Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi, và hai kịch bản: Kiếp phong trầnBất cượng. Chớ cượng làm chi.

Kiếp phong trần (1882) (có thể ông phỏng theo truyện xưa): hai nhân vật Lê, Trương đối thoại với nhau về sự thăng trầm biến đổi của cuộc đời, nhưng lời lẽ khô khan, văn cổ, đọc rất chán.

Kịch Bất cượng. Chớ cượng làm chi (1882) cũng có mục đích dạy đời: Lê hỏi Trương về những lẽ ở đời, Trương giải nghiã chữ cượng [cưỡng] và đề nghị: không nên cưỡng lại định mệnh, lời lẽ kịch bản này nhẹ nhàng và vui hơn, nhưng ý vẫn cổ, văn còn vụng.

Tóm lại, Trương Vĩnh Ký, không để lại văn bản sáng tác độc đáo nào như Huỳnh Tịnh Của với truyện ngắn «Một vụ án mạng» chúng tôi đã giới thiệu kỳ trước; và văn ông cũng kém  văn nhiều người viết bài trên Gia Định Báo trước ông, như Tôn Thọ Tường hay tác giả vô danh phóng tác truyện Rô-Bin-Son, đều viết quốc ngữ hay hơn ông.

Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi, sáng giá hơn cả, không rõ viết năm nào, in năm 1881, là một bài tạp văn, kể chuyến du hành ra Bắc, pha trộn với điạ lý, điạ hình xứ Bắc.

  

IV- Sách dịch và chú giải chữ Hán

Đây là phần quan trọng nhất trong tác phẩm của Trương Vĩnh Ký: dịch và chú giải những sách Hán văn cơ bản sang chữ quốc ngữ: Tam tự kinh (1884), Tam thiên tự (1887), Đại học (1889), Trung Dung (1890), Minh Tâm Bửu Giám (1893).

Những công trình này vẫn còn giá trị tới ngày nay, bởi những ai muốn hiểu rõ văn chương Việt, thì phải tìm hiểu đến nguồn gốc chữ Hán. Người Việt ngày nay, muốn học chữ Hán, vẫn có thể học với sách của Trương Vĩnh Ký, vì phương pháp dạy chữ Hán của ông vô cùng rành rọt, dễ hiểu, ông cắt nghiã từ ngữ Hán văn một cách thâm sâu, uyên bác, mà những thày dạy sau ông, khó bề sánh kịp.

Trương Vĩnh Ký xứng danh học giả chính ở những tác phẩm dịch thuật và chú giải này.

 

 

Về những sách chưa in trong Thư mục 1892

Như trên đã nói: Thường người ta không chú ý đến những văn bản chưa in, bởi vì, chưa in tức là chưa đến tay độc giả, và người nghiên cứu cũng chưa được đọc, nên không thể biết gì để viết. Nhìn tên những sách chưa in trong thư mục, ta thấy Trương Vĩnh Ký tiếp tục viết thêm 22 cuốn sách từ số 88 đến số 110, dạy tiếng các nước láng giềng của Việt Nam. Những sách này không dành cho người Việt, vì viết bằng tiếng Pháp, soạn sau khi ông đã bị Pháp bỏ rơi hoàn toàn từ năm 1887, chỉ còn giữ được chân dạy ngôn ngữ phương Đông. Qua tên những cuốn sách này, ta có thể đoán rằng, ông dạy người Pháp tiếng nói của các dân tộc láng giềng (Xiêm, Lào, Miến Điện, Cao Miên, Mã Lai) mà họ đã hoặc sẽ có ý định xâm lăng, còn người Việt ít ai để tâm tìm học. 

Riêng ba cuốn sách đánh số 126, 131 và 132, vì tên gọi, đã gây chú ý và được các vị trí giả Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Trung và Cao Xuân Hạo, nhắc đến ở dưới, đó là:

126- Etude comparée sur les langues, les écritures, les croyances et les mœurs de l'Indochine [Nghiên cứu so sánh tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng và phong tục ở Đông Dương].

131- Combinaisons des systèmes conventionnels d'écritures idéographiques, hiéroglyphiques, phonétiques et alphabétiques. [Kết hợp các hệ thống quy ước trong chữ viết tượng hình, tượng hình Ai cập cổ, viết theo ngữ âm, và theo mẫu tự La- tinh].

132- Étude comparée des écritures et des langues des trois branches  linguistiques.[Nghiên cứu so sánh chữ viết và tiếng nói trong ba ngành ngôn ngữ học].

Ba cuốn sách này chưa in, nên ta không biết nội dung như thế nào, nhưng chúng tôi nghĩ rằng: những chữ: Étude comparée (Nghiên cứu so sánh) hay Combinaisons des systèmes conventionnels (Kết hợp các hệ thống quy ước) mà Trương Vĩnh Ký dùng ở đây, vẫn ở trong phạm trù văn phạm học, ông muốn so sánh ba thứ chữ viết: chữ Hán (idéographiques); chữ Nôm (phonétiques) và chữ quốc ngữ (alphabétiques).

Cả ba tên sách này, vì có những danh từ thông dụng trong ngữ học hiện đại: Ngữ âm, kết hợp,  nghiên cứu so sánh... khiến người mới nhìn qua, có cảm tưởng Trương Vĩnh Ký là một nhà ngữ học hiện đại; nhưng thực ra, ông dùng những chữ này trong phạm trù của một nhà văn phạm học, như ta sẽ thấy ở dưới. 

 

Trương Vĩnh Ký có phải là nhà ngữ học không?

Để khỏi có sự lẫn lộn giữa sách văn phạm (grammaire) và sách ngữ học (linguistique), xin phân biệt rõ:

Ngôn ngữ học, như một khoa học mổ xẻ và khảo sát ngôn ngữ trên tất cả các bình diện: từ cơ năng phát động lời nói đến, sự lựa chọn và sự kết hợp mỗi âm, mỗi tiếng, sắp xếp trật tự như thế nào để làm thành một câu... nghiên cứu các hình thức ghi âm, ký hiệu, vv... chỉ xuất hiện ở Âu châu, từ khi cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (Cours de linguistique générale) của Ferdinand de Saussure (1857-1913), người Thụy Sĩ, được học trò của ông tập hợp các bài giảng và in ra năm 1916, sau khi ông qua đời. Đây là cuốn sách cơ bản đầu tiên về ngôn ngữ học hiện đại. Với tác phẩm này, de Saussure trở thành cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại[9]. Hai người học trò có công nhất trong trong việc quảng bá ngữ học de Saussure là nhà ngữ học Đan Mạch Louis Hjemlslev và nhà ngôn ngữ cấu trúc Nga Roman Jakobson.

Nước Nga tiếp nhận tư tưởng của de Saussure qua S. Karcevskij, học trò ông ở Genève từ năm 1905, trở về Nga năm 1917, Karcevskij giảng dạy ở đại học, và thông tin cho những nhà ngôn ngữ trẻ như Jakobson, Trubeckof, khiến nền ngữ học Nga phát triển rất sớm ở châu Âu. Những sinh viên miền Bắc nước ta đi du học Nga, cũng được tiếp nhận ngữ học sớm, như trường hợp nhà ngữ học Nguyễn Tài Cẩn, trong khi miền Nam hình như chưa có môn học này trước năm 1975, vì chính ở Pháp, cũng phải đến năm 1960, ngôn ngữ học hiện đại mới được phổ biến rộng rãi và thịnh hành.

Vì vậy, khi ta thấy những nhà nghiên cứu nói về sách ngôn ngữ học của Trương Vĩnh Ký hoặc có những tên sách của Trương Vĩnh Ký viết về ngôn ngữ học, được họ đưa ra làm bằng, như trường hợp hai giáo sư Nguyễn Văn Trung, Cao Xuân Hạo, thì chúng ta cũng nên thận trọng.

 

Trương Vĩnh Ký, nhà văn phạm học

Hai cuốn sách cơ bản về văn phạm học tiếng Việt của Trương Vĩnh Ký là:

- Abrégé de grammaire annamite, in năm 1867, là sách nhập môn.

- Grammaire de la langue annamite- Sách mẹo tiếng An Nam, in năm 1883, là tác phẩm  chính về văn phạm học của Trương Vĩnh Ký.

Trong phần Notions préliminaires (Những khái niệm mở đầu) cuốn Grammaire de la langue annamite- Sách mẹo tiếng An Nam, sau khi viết về nguồn gốc lâu đời của dân Việt và tiếng Việt, ông tóm lược tính chất của tiếng Việt như sau:

«Tiếng Việt đơn giản và dễ dàng trong văn phạm, trong cách đặt câu, nhưng lại phức tạp và rất khó đối với người ngọai quốc trong ngữ điệu (intonation) và cách phát âm (prononciation).

Âm của tiếng nói không có đủ, nên người ta bắt buộc phải dùng sự hợp âm, bằng cách gán 5 dấu cho cùng một âm, để có những nghiã khác nhau. Tiếng Việt đích thực có thi vị (poétique), giầu thành ngữ (idiotismes) và cụm từ (locutions)

Tiếp đó, ông mô tả những giọng và những tiếng khác nhau của mỗi miền: Nam, Trung, Bắc. Sau cùng, ông bàn đến chữ viết. Trương Vĩnh Ký cho rằng trước khi bị Tầu đô hộ, chúng ta đã có thứ chữ viết biểu âm (écriture phonique, biểu dương âm thanh của tiếng nói) như người Xiêm, Lào, Miến Điện, Cao Miên... Nhưng đến năm 186 trước công nguyên, Sĩ Nhiếp bắt dân ta học chữ Hán. Cuối cùng, nước ta có ba thứ chữ:

Chữ nhu (nho) hay chữ Hán, là thứ chữ viết tượng hình biểu ý (écriture idéographique). Và chữ nho, theo ông, có sáu hình thức cấu tạo chữ.

Chữ nôm là thứ chữ viết biểu âm và biểu ý (écriture idéophonétique) đặc biệt do người Việt sáng tạo, dùng để biểu dương âm thanh tiếng Việt. Sự cấu tạo chữ nôm giống như cách viết chữ nho, nhưng là chữ nho đọc theo âm Việt, với tất cả sáu hình thức cấu tạo đã kể, miễn là thanh âm giống hay gần giống tiếng nói thông tục.

Chữ quốc ngữ (écriture alphabétique) bằng mẫu tự La tinh, là thứ chữ để viết tiếng Việt thông tục.

Sau đó ông xếp loại nguyên âm (voyelles) và phụ âm (consonnes) tiếng Việt, theo cách của văn phạm tiếng Pháp. Tiếp đến là sáu giọng điệu (ton) cao thấp trong tiếng Việt, gồm: bình thanh (chưa có dấu) và 5 dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng.

Cuốn Grammaire de la langue annamite, được chia làm 5 chương:

Chương I- Substantif (Danh từ); Chương II- Adjectif (Tĩnh từ); Chương III- Pronom (Đại danh từ); Chương IV- Verbe (Động từ) và Chương V- Adverbe (Trạng từ).

Sách này viết tiếng Pháp, giải thích luật mẹo tiếng Việt, theo quy ước văn phạm Pháp, cho người Pháp hiểu. Trương Vĩnh Ký đã nghiên cứu kỹ về sự khác biệt quy phạm (normatif) tiếng Việt với tiếng Pháp và chữ Hán.

Vì vậy, cuốn Grammaire de la langue annamite, mà Trương Vĩnh Ký dịch rất đúng nội dung là Sách mẹo tiếng An Nam, hay là sách dạy các quy tắc văn phạm tiếng Việt, ta không nên thay thế bằng chữ ngữ học (linguistique), tức là sự nghiên cứu khoa học về tất cả các khía cạnh của ngôn ngữ, chỉ gây hiểu lầm vô ích.

 

Trương Vĩnh Ký biết bao nhiêu thứ tiếng?

Thư mục viết tay năm 1892 cho biết một cách khá chính xác những ngoại ngữ mà Trương Vĩnh Ký thông thạo và viết sách: Đến năm 1889, tức là ba năm sau khi bị thất sủng, ông mới bắt đầu soạn các giáo trình dạy tiếng phương Đông cho người Pháp học: tiếng Xiêm (1889), tiếng Cam-bốt (1890). Tiếp theo là những sách chưa in, nên không rõ năm nào, ông viết các sách dạy tiếng Tamoul (Nam Ấn Độ), tiếng Indoustan (Ấn Độ), tiếng Birmanie (Miến Điện), tiếng Lào và tiếng Mã Lai. Ngoài những thứ tiếng ông viết sách, tức ông phải thành thạo lắm, ông còn biết chữ Pháp và chữ La Tinh, được học từ nhỏ, và tiếng Anh khi ở Pinang, là trường hợp cực kỳ hiếm hoi, nên có thể nói: Trương Vĩnh Ký biết rõ khoảng 10 ngoại ngữ. Chữ Hán, tức chữ nho, đối với người Việt, thời ấy, không phải là ngoại ngữ, bởi vì tiền nhân của chúng ta viết chữ Hán nhưng đọc theo âm Việt của mình, người Tầu nghe không hiểu. Khi tra Đại Nam Quấc Âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, ta thấy hơn một nửa chữ Việt, có gốc là chữ Hán.

 

Những nhà quốc ngữ học cùng thời đại với Trương Vĩnh Ký

Huỳnh Tịnh Của và bộ Đại Nam Quấc Âm Tự Vị

Trái ngược với dư luận cho rằng Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của đã cộng tác với nhau trong Gia Định Báo cùng với Trương Minh Ký. Sự thật khác hẳn, chúng tôi không tìm thấy dấu hiệu «cộng tác» giữa ba người này. Sách của Huỳnh Tịnh Của ngày nay bị thất lạc gần hết. Ông là một trong những người đầu tiên viết cho Gia Định Báo, và như chúng tôi đã giải thích kỳ trước, cũng là người viết truyện ngắn hiện thực bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam. Hai mươi năm sau, ông trở thành học giả uyên thâm Hán học, chữ Nôm, chữ quốc ngữ  và lịch sử dân tộc, là tác giả bộ tự điển đầu tiên của Việt Nam: Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, in năm 1895, còn nguyên giá trị tới bây giờ.

Đại Nam Quấc Âm Tự Vị xếp chữ theo thứ tự a, b, c, d, bắt đầu bằng chữ A, rồi tới Á, À, Ác... bên trái chua chữ Hán (c) hoặc chữ Nôm (n), bên phải giải nghiã bằng chữ quốc ngữ. Không những bộ tự vị đúng nhất, nếu ta so với các tự điển khác, làm sau. Nhưng có những chữ, ông không chỉ giải nghiã mà còn viết cả lịch sử chữ. Đặc biệt mỗi chữ, đối với người không biết đọc Hán, Nôm, ông cũng ghi (n) tức là nôm hay (c) tức là chữ [chữ Hán] là gốc, bên cạnh. Chi tiết nhỏ này rất quan trọng, vì khi ta viết một từ, nếu ta muốn biết từ này là tiếng Việt ròng hay là từ Hán Việt, chỉ cần giở Đại Nam Quấc Âm Tự Vị là biết ngay. Và cũng qua bộ tự vị này, ta biết tiếng Việt của chúng ta, có gốc Hán nhiều hơn tiếng Việt ròng. Người Bắc, Trung, Nam đều viết chữ Việt, với ít nhiều lỗi, nhưng nếu tra tự vị Huỳnh Tịnh Của, ta viết tiếng Việt đúng hơn. Vì vậy, bộ Đại Nam Quấc Âm Tự Vị chính là một trong những nền móng đầu tiên xây dựng chữ quốc ngữ.

Trong bài Tựa, Huỳnh Tịnh Của cho biết: ông Landes «quan toàn quyền» [thực ra Landes chỉ là quan chức trong Phủ Toàn quyền] đã giúp ý kiến và phương pháp để ông soạn bộ tự vị này, mất hơn bốn năm (khoảng 1888-1893, in năm 1895) ông đang băn khoăn vì không có phần dịch sang tiếng Pháp, thì được ông Landes khuyên: «Tự vị nước nào làm theo tiếng nước ấy, chẳng cần dịch sang tiếng Lang sa làm gì cho thêm bộn, lại phải tìm người dịch, mất ba năm nữa...» Lời khuyên này rất quý, nhất là từ miệng một người Pháp. Vậy Landes là ai? Ông là một trong những người Pháp có công lớn với chữ quốc ngữ, nhưng cả hai bên Pháp-Việt đều ít nói đến, tên tuổi ông bị chìm vào quên lãng cùng với những văn bản của ông.

 

Công lao xây dựng chữ quốc ngữ của những người Pháp:

Abel des Michels , Edmond Nordeman và Antony Landes

Vì phải có chữ, tức là phải có văn chương Việt để dạy tiếng Việt, cho nên một số thầy giảng người Pháp, cũng phải làm công việc giống Trương Vĩnh Ký. Nhưng công lao của họ không được người Việt biết đến. Mặc dù, về phiên âm sách chữ Nôm sang chữ quốc ngữ, Antony Landes có công hơn Trương Vĩnh Ký, vì ông đã thu thập và thuê người chép lại ca dao, là nguồn văn hóa lâu đời nhất của dân tộc ta, mang tất cả những dấu tích thăng trầm của lịch sử, xã hội. Nếu không có văn bản của Landes về ca dao, chưa chắc Vũ Ngọc Phan và những người khác đã tập hợp và nghiên cứu về ca dao được. Về những người Pháp có công lớn này, chúng tôi xin kể ba trường hợp điển hình:

 

Abel des Michels (1833-1910) tốt nghiệp bác sĩ y khoa (1857), cử nhân luật (1865), nhưng chọn giảng dạy tiếng Việt. Ngày 8-11-1871, ông bắt đầu dạy tiếng Việt ở trường Sinh ngữ Đông phương Paris (École des Langues Orientales Vivantes), và năm sau, từ ngày 5-12-1872, ông thọ chức giáo sư với giảng đàn (titulaitre chaire) trong 20 năm, đến ngày 12-11-1892, ông từ chức.

Abel des Michels, là người đọc bài Diễn văn nhân dịp khai giảng lớp dạy tiếng Nam kỳ ở trường chi nhánh đại học Sorbonne, năm 1869 (Discours prononcé à l'ouverture du cours de cochinchinois à l'école annexe de la Sorbonne, 1869). Bài này đánh dấu việc khai giảng lớp học tiếng Việt đầu tiên tại Paris, sau khi Pháp chiếm xong lục tỉnh Nam Kỳ. Thực ra, trường Ngôn ngữ Đông phương do Bộ trưởng Colbert lập từ năm 1669, khi Pháp bắt đầu chinh phục thuộc địa ở phương Đông; nhưng phải hai mươi năm sau, đến khi chiếm được sáu tỉnh Nam Kỳ, Thống sứ de la Grandière mới quyết định việc lập trường tiểu học ở Nam Kỳ ngày 16-7-1864 và cho phát hành Gia Định Báo số 1 ngày 15-4-1865. Sau đó, chương trình dạy học tiếng Việt bằng chữ quốc ngữ mới được thành lập ở Paris.

Lục Vân Tiên được Trần Văn Của phiên âm sang chữ quốc ngữ lần đầu, năm 1864, cùng năm với việc mở trường tiểu học ở Nam Kỳ. Rồi lại được Gustave-Jean-Auguste Janneau (phiên âm sang chữ quốc ngữ) và dịch sang tiếng Pháp, không rõ năm nào. Sau đó, Abel des Michels soạn Lục Vân Tiên diễn ca en trois langues (Lục Vân Tiên diễn ca sang ba thứ tiếng: Nôm, Pháp và quốc ngữ), in năm 1883.

Ba năm sau, Lục Vân Tiên mới xuất hiện trong bài giảng tiếng Việt của Trương Vĩnh Ký lần đầu năm 1886 (Explication du Lục Vân Tiên, 1886). Vậy Trương Vĩnh Ký không phải là người đầu tiên phiên âm Lục Vân Tiên sang chữ quốc ngữ.

Kim Vân Kiều tân truyện, ngược lại, do Trương Vĩnh Ký phiên âm, lần đầu, in năm 1875 và lần sau in năm 1889. Abel des Michels cũng phiên âm Kiều ra quốc ngữ, sau Trương Vĩnh Ký 9 năm và ông là người đầu tiên dịch Kiều sang tiếng Pháp, sách in năm 1884 (Nxb Ernest-Leroux, Paris).

Năm 1888, Abel des Michels cho in bản dịch tiếng Pháp toàn bộ tập Chuyện đời xưa (Ernest-Leroux, Paris) do Trương Vĩnh Ký sưu tầm. Trong lời tựa sách này, Abel des Michels viết rất rõ về lợi ích của việc dùng truyện đời xưa, không những để học tiếng Việt mà còn để hiểu rõ bản chất văn hóa của dân tộc Việt, ông viết:

«Thực vậy, qua những văn bản loại này [Chuyện đời xưa], ta thấy xuất hiện một cách rõ ràng nhất tinh thần đặc thù của một dân tộc; và có lẽ không nơi nào ta giúp ta nắm bắt được tính chất An Nam bằng những giai thoại bông đùa khúc mắc mà những văn bản này đem lại. Như tôi đã có nhiều dịp nói rằng, ta học được từng bước về: tinh thần hoài nghi và giễu cợt của dân tộc này (khiến họ) cúi đầu trước bất kể sức mạnh nào, nhưng họ cũng lại chế nhạo không thương tiếc những kẻ nắm vận mệnh họ, họ chấp nhận trước tiên vì bị bắt buộc, sau thành thói quen, nền văn minh Trung hoa, họ để cho sư sãi lợi dụng, họ run sợ khi nghĩ đến con cọp, nhưng đồng thời họ cũng phong cho người Tầu, sư sãi, mãnh hổ, những vai anh hùng tức cười trong truyện cổ tích giễu cợt của họ. Ta tìm thấy hầu như ở mỗi dòng sự lên ngôi của tinh tế, của mưu mẹo, và của cả nói dối, là những khí giới mà kẻ yếu, bị đàn áp luôn luôn dùng để chống lại kẻ mạnh đàn áp họ.» (Préface (Tưạ) trang II và III)

Những lời khá lạ lùng của một người Pháp, nhận định sâu sắc về văn hoá dân gian của dân tộc mà họ chiếm đóng, cho thấy không phải người Pháp nào cũng đứng về phía bạo lực và đàn áp, và việc dạy chữ quốc ngữ đối với Abel des Michels có một chiều sâu mà có lẽ Trương Vĩnh Ký chưa đạt được.

 

Edmond Nordeman (1869-1945) tới Hà Nội năm 1888, dạy trường Thông ngôn và đã in khoảng 20 cuốn sách, phần đông phiên âm từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ.

 

Antony Landes (1850-1893), công chức thuộc địa (administrateur des affaires indigènes) là người có công lớn trong việc tìm hiểu văn hóa, sưu tầm, ghi lại ca dao và thơ văn của người Việt và của các dân tộc thiểu số.

Trong bài viết tựa đề Les papiers de Landes (Văn bản của Landes) L. Finot, Giám đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ[10] ghi danh sách toàn bộ tác phẩm của Landes mà gia đình tặng hội Á Châu (Société Asiatique) sau khi ông qua đời. Nhờ danh sách này, cộng thêm một vài danh sách khác, chúng tôi chọn ra được những tên sách sau đây:

Contes Tjames (1887), truyện cổ tích của ba dân tộc Chàm, Xiêm và Quiames (Quiames là dân tộc Kiềm Nam, sống ở Bình Thuận và Cam-bốt).

Les papiers de Landes (Văn bản của Landes) trong có tài liệu về tiếng nói của ba dân tộc thiểu số (Thổ, Mường, Mán).

Folklore indigène (Dân ca).

Trần Bố, comédie annamite (Trần Bố, tuồng An Nam) 1866 [không biết có ghi lầm năm, vì  1866, Landes mới 16 tuổi].

Petit encyclopédie littéraire de la jeunesse (Tiểu tự điển bách khoa về văn chương thiếu nhi), dịch từ quốc ngữ sang tiếng Pháp.

Notes sur les mœurs et superstitions populaires annamites (Ghi chú về phong tục và sự tin dị đoan của người bình dân An Nam), 1880.

La Commune annamite (Làng xã An nam), 1880.

Nhị Độ Mai (Les pruniers fleuris), 1884, phiên âm và dịch ra tiếng Pháp.

Contes populaires annamites (Truyện cổ tích An Nam), dịch sang tiếng Pháp.

Littérature populaire annamite, 2 volumes (Văn chương bình dân An Nam), 2 quyển, văn bản chữ nôm, phiên âm sang quốc ngữ và dịch sang tiếng Pháp.

Contes et légendes annamites (Cổ tích và huyền thoại An Nam), in năm 1884 và 1886, gồm 127 truyện, khác với 72 Chuyện đời xưa do Trương Vĩnh Ký sưu tầm.

Littérature populaire annamite (Văn chương bình dân An Nam), 2 tập, chữ nôm, phiên âm quốc ngữ và dịch sang tiếng Pháp, chú giải.

Contes cambodgiens (Truyện cổ tích Cao Mên), chữ nôm, phiên âm quốc ngữ và dịch sang tiếng Pháp, chú giải.

Théâtre annamite (Tuồng An Nam), sưu tập tuồng, phiên âm quốc ngữ và dịch ra tiếng Pháp

Truyền kỳ mạn lục...

Địa hạt hoạt động của Antony Landes xem ra còn rộng hơn Trương Vĩnh Ký. Ông thiên về chữ Nôm và văn chương bình dân, trong khi Trương Vĩnh Ký chuyên chú đến sách chữ Hán. Ngày trước chúng tôi có được nghe học giả Hoàng Xuân Hãn kể chuyện ông Landes thu thập và thuê người chép ca dao tục ngữ. Có thể Landes là người đầu tiên làm việc này, vì các nhà nho coi thường chữ Nôm và ca dao; trong khi ca dao chính là kho tàng văn chương vô giá và vô tận của dân tộc.

Thế hệ tiếp theo có A.Chéon (học trò Trương Minh Ký) là giáo sư dạy tiếng Việt, ông viết cuốn Cours de langue annamite (Giáo trình tiếng Việt) (Imprimerie Schneider, 1899). Ông cũng dịch một số văn bản sang tiếng Pháp, như La dengue (Mắc cúm từ), Conseils d'une mère à sa fille (Thơ mẹ dạy con), in trong Thư mục Trương Vĩnh Ký. Năm 1973, học giả Đào Duy Anh nhắc đến ông trong bài Tựa cuốn Chữ nôm, nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, với những lời sau đây:

«Kể nghiên cứu chữ Nôm một cách có hệ thống thì phải nói đến người Pháp A. Chéon là người đầu tiên. Ông soạn sách «Cours de chữ Nôm» làm giáo trình cho người Pháp học tiếng Việt Nam, nhưng hiện chúng tôi không có sách ấy (bản của Thư viện Khoa học Xã hội đã bị mất từ lâu, không thấy có trong số sách chúng ta tiếp quản của Viện Viễn Đông Bác Cổ»[11]. Trước đó, học giả Đào Duy Anh đã mở đầu bài Tựa này, bằng một nhận định xót xa:

«Chữ Nôm là thứ chữ của dân tộc ta đã được dùng trong gần mười thế kỷ, mãi đến gần đây, cuối thời Pháp thuộc nó mới trở thành, cũng như chữ Hán, một thứ cổ tự không dùng được trong đời sống hàng ngày nữa. Thứ cổ tự này không được dạy riêng cho nên hiện nay có rất ít người biết đọc. Nhưng là chữ dân tộc, nó đã cùng với chữ Hán mang chứa một phần quan trọng văn hoá dân tộc của ta, mà hiện nay [1973] một mình Thư viện Khoa học xã hội ở Hà Nội cũng còn giữ được đến 1186 quyển sách chữ Nôm. Trong công cuộc nghiên cứu văn hóa cổ của nước ta, nếu không biết chữ Nôm thì làm sao khai thác được cả cái vốn cổ chữ Nôm còn giữ được ở trong thư viện đấy và chắc là cũng còn rải rác trong dân gian?» (trang 9)

Những dòng trên đây để nhắc rằng: cùng thời với Trương Vĩnh Ký, còn có những người Pháp,  đã làm công việc dạy học, viết giáo trình hoặc dịch thuật văn chương Việt Nam, để tìm hiểu và gìn giữ nền văn hóa của dân tộc này. Nếu ta chỉ độc tôn nghiên cứu và đề cao công trạng của Trương Vĩnh Ký, mà quên những người Pháp ấy, là bất công và thiếu tinh thần khoa học.

 

Sự nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký

Nguyễn Văn Tố

Học giả Nguyễn Văn Tố mở đầu bài Tựa  sách Trương Vĩnh Ký- Biên khảo của Lê Thanh như sau:

«Nước ta có đức Trần Hưng Đạo là bậc lập đức, vua Lê Lợi và vua Gia Long là bậc lập công... Ông Trương Vĩnh Ký có thể liệt vào hạng người đó, vì không những Hán học uyên thâm, Pháp học uyên bác, ông lại còn tinh thông về các thứ chữ ở Viễn Đông như chữ Cao mên, chữ Xiêm, chữ Lào, chữ Ấn Độ: thực là một nhà bác ngữ uẩn súc, nước ta chưa từng có bao giờ.»

Lối viết như thế này rất thông dụng ở những vị có chức sắc trong làng văn khi nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký, và được những người «ít học» tin ngay: Chỉ cần Hán học uyên thâm, Pháp học uyên bác, biết chữ Cao Mên, Xiêm, Lào, Ấn Độ, là có thể trở thành một Trần Hưng Đạo, hay một nhà «bác ngữ uẩn súc» mà nước ta chưa từng có bao giờ! Mặc dù Trần Hưng Đạo chẳng có gì chung với một nhà bác ngữ uẩn súc. Tiếp đó, ông viết:

«Chỉ một quyển sử Nam chép bằng chữ Pháp [Cours d'histoire annamite - Giáo trình Lịch sử Annam] và mấy quyển truyện nôm dịch ra quốc ngữ, cũng đủ nổi tiếng là một nhà «lập ngôn bất hủ».  Cách đánh giá thổi phồng này trở thành lối «lập ngôn» liên tục của cụ Tố:

«Không những làm sách, dịch sách mà thôi, ông còn giúp việc triều đình, hợp tác với ông Paul Bert (…) Sách này [sách của Lê Thanh] là sách tiểu sử chép những sự nghiệp lừng lẫy của một nhà «lập ngôn bất hủ» của nước ta, một tay cự phách trong văn học đã nổi tiếng là một nhà sư phạm biết treo một bức gương sáng cho ta soi chung»[12].

Cụ Tố chắc cũng không rõ Trương Vĩnh Ký theo Paul Bert để làm gì trong triều đình, nhưng cứ theo Paul Bert là hay rồi, và đó là sự sùng kính Paul Bert vô điều kiện của một số người Việt dưới thời Pháp thuộc.

Nếu đọc bài luận văn dài của cụ, viết bằng tiếng Pháp năm 1936, tựa đề Petrus Truong Vinh Ky (1837-1898), được Nguyên Ngọc dịch ra tiếng Việt, và phổ biến trên intertnet, chúng ta mới thấy cách nghiên cứu lạ lùng của vị tiền bối này, xin lấy hai thí dụ:

1- Nguyễn Văn Tố xác định Trương Vĩnh Ký là «nhà bác học Nam Kỳ chủ yếu là một người xuất bản», rồi ông viết: «Tin tưởng sâu sắc ở tầm quan trọng của việc cung cấp cho các nhà nghiên cứu những tư liệu, thì lợi ích có thể rút ra từ đấy để đi sâu hơn nữa vào thế giới tâm tình Hán Việt». Câu này dường như có ý nói: Trương Vĩnh Ký là một nhà xuất bản giỏi nên đã chọn in đúng những sách giá trị như Minh Tâm Bửu Giám, Tứ thư... để «cung cấp tư liệu cho các nhà nghiên cứu», và sau đó cụ hết lời ca ngợi «cách nghiên cứu chữ Hán» của Trương Vĩnh Ký. Thực ra, Trương Vĩnh Ký chọn in những sách này không phải vì ông là «nhà xuất bản», và ông cũng không làm việc «nghiên cứu chữ Hán» là hai «nghề» mà cụ Tố cấp cho Trương Vĩnh Ký. Ông làm những việc này của một vị thày dạy học trò.

2- Về những sách như: Bất cượng chớ cượng làm chi, Kiếp phong trần, Cờ bạc nha phiến... Nguyễn Văn Tố nhận định: «Đặc biệt hấp dẫn và đọc rất thích. Tác giả thuộc số những người tin rằng triết học không nên là độc quyền của các nhà thông thái và các chuyên gia, nó cần tác động một cách sống động đến thời hiện đại, vậy nên triết học không nên tự nhốt mình trong tháp ngà, cũng không được tự cô lập mình trong những nghiên cứu tối nghiã không với tới được với người thường...». Nguyễn Văn Tố vẫn lại quên rằng mục đích của việc soạn và in những sách này là để dạy chữ quốc ngữ, và dạy luân lý giáo khoa thư cho học trò tiểu học chứ không phải để truyền bá triết học cho những đứa bé con. Người lớn đọc những sách này và học được điều gì về triết học, đó là việc khác. Cụ cứ hăng say ca tụng Trương Vĩnh Ký, ra ngoài đề như thế, khiến người đọc rất nản khi thấy các vị tiền bối, hoặc chép lại những lời khen của thực dân, rồi thổi phồng lên, hoặc lẩm cẩm khen lạc hướng như cụ Tố, thực đáng buồn.

 

Jean Bouchot tạo ra hai cuốn sách vô hình

Đến đây, chúng tôi phải trở lại với cuốn sách Un savant et un patriote cochinchinois - Petrus J.B Truong Vinh Ky (1837-1898) (Một nhà bác học và nhà ái quốc Nam Kỳ - Petrus J.B Trương Vĩnh Ký 1837-1898) của Jean Bouchot, mà chúng ta đã đọc trong Chương11: Trương Vĩnh Ký, phần III: Vinh dự lầm than.

Lần này chúng tôi xin nói về cuốn sách «ma» của Trương Vĩnh Ký, được Bouchot tung ra, với những lời đồn là đã được tất cả các nhà bác học chuyên môn nhất đọc và khen tặng, cuốn sách này đã làm chóng mặt những nhà nghiên cứu nổi tiếng đứng đắn như Nguyễn Văn Trung, Cao Xuân Hạo, khiến họ chép lại những dòng tung hô Trương Vĩnh Ký là «nhà ngôn ngữ học nổi danh thế giới» mà không hể kiểm chứng.

Như ta đã biết, biệt tài tung tin thất thiệt của Jean Bouchot (trong bài viết trước của chúng tôi), ở đây, về sách «ngữ học» sự sắp đặt của ông rất có lớp lang: Bouchot cẩn thận rào đón, ông viết: «những cuốn sách dạy học khiến người ta có thể chê ông không có trình độ ngữ học cao», trước khi phóng ra tên cuốn sách «thượng đẳng» này:

«Nhưng cuốn Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales» (Khảo luận về sự tương đồng giữa những ngôn ngữ và chữ viết phương Đông) này chẳng hạn, đã thình lình tách ông khỏi đám thày làng, đưa ông vào con đường khoa học thuần tuý. Tác phẩm sau cùng này gặt hái được sự nhất trí tán thành của hầu như toàn bộ những nhà bác học đích đáng nhất: phương pháp chặt chẽ và chín chắn, tinh luyện, lập luận không thể bắt bẻ được, những kết luận thường được mọi người chấp thuận, đó là một niềm vinh hạnh không nhỏ trong lãnh vực thường có nhiều tranh cãi là Hán học».[13]

Những lời «vàng ngọc» này, ghi ở trang 32, đã được Nguyễn Văn Tố và Nguyễn Văn Trung   tin tưởng và chép lại, mặc dù họ chưa đọc cuốn sách mầu nhiệm này bao giờ.

Rồi khoảng 10 trang sau (trang 43-44), Jean Bouchot giới thiệu tên một cuốn sách khác: Une analyse comparée des pricipales langues du monde (Phân tích so sánh những ngôn ngữ chính trên thế giới), bằng cách chép lại đoạn văn của một tác giả người Anh tên là J. Thomson, kể lại trong cuốn sách của ông ta, tựa đề: Dix ans de voyage dans la Chine et l'Indochine (Mười năm du lịch ở Trung Hoa và Đông Dương), rằng ông ta đã gặp nhân vật kiệt xuất Petrousky (sic) giáo sư trường Thông ngôn ở Sài Gòn trong một giáo xứ ở Chợ Lớn, chung quanh vị giáo sư này là một sưu tập sách hiếm quý mà ông đã thu thập trong các chuyến đi Âu châu và Á châu. Ông nói tiếng Anh rất giỏi, tiếng Tây ban nha, Bồ Đào Nha, Ý Đại Lợi, thành thạo, ông nói chuyện bằng tiếng La tinh liên miên với một giáo sĩ, ông đã viết nhiều sách và đang soạn cuốn Une analyse comparée des pricipales langues du monde (Phân tích so sánh những ngôn ngữ chính trên thế giới) mà ông đã dành ra mười năm làm việc này. Tên cuốn sách thứ hai này cũng sẽ được cả hai giáo sư Nguyễn Văn Trung và Cao Xuân Hạo ghi nhận. Cụ Tố chép lại cả đoạn Bouchot kể chuyện  J. Thomson tung hô thiên tài Trương Vĩnh Ký.       

Như chúng ta đã biết, Jean Bouchot là một «chuyên gia» về bịa đặt, nên câu chuyện hai cuốn sách «ma» này không lạ, trừ việc không thể tìm thấy tung tích trong Thư mục viết tay của Trương Vĩnh Ký và cũng chưa tìm thấy ở nơi nào khác.

 

Giáo sư Nguyễn Văn Trung

Người có trách nhiệm đầu tiên là giáo sư Nguyễn Văn Trung, ông cho biết ông chưa nhìn thấy cuốn sách nào Trương Vĩnh Ký viết về ngữ học, vậy mà ông không ngần ngại dùng những danh xưng nhà ngữ học, nhà triết ngữ học, để chỉ Trương Vĩnh Ký, ông đặt tên Phần 2 cuốn sách của ông là Trương Vĩnh Ký, nhà ngữ học, và mở đầu tiểu đoạn Nghiên cứu ngôn ngữ, Nguyễn Văn Trung viết (chúng tôi in đậm):

«Hiện nay, chúng tôi chưa tìm thấy một tài liệu nào về nghiên cứu ngôn ngữ. Nhưng đọc thư mục do chính Trương Vĩnh Ký viết và một vài thư mục khác do những người đã có dịp đến nhà Trương Vĩnh Ký được gia đình cho xem tận mắt tài liệu sách bản thảo chưa in, hoặc những người đã được đọc, chúng tôi ghi nhận như sau:

1- Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales.

2- Analyse comparée des pricipales langues du monde

3- Etude sans titre sur les langues de la Péninsule Indochinoise.

4- Etude comparée sur les langues, les écritures, les croyances et les mœurs de l'Indochine.

5- Combinaisons des systèmes conventionnels des écritures idéographiques, hétérogliphiques

phonétiques et alphabétiques.

6- Étude comparée des écritures et des langues des trois branches lingustiques».

Sau đó giáo sư Trung viết tiếp:

«Sáu cuốn kể trên đều chưa in, và chắc có dưới dạng bản thảo đã hoàn chỉnh vì đã có người coi, đem triển lãm hay lưu giữ tại nhà thờ Chợ Quáncuối cùng do chính Trương Vĩnh Ký ghi».[14]

Chúng tôi xin có mấy nhận xét sau đây:

Trong 6 cuốn sách kể trên, số 1 và số 2 là sách Bouchot nặn ra. Số 3 không biết ghi ở đâu. Chỉ có số 4, số 5, số 6, được ghi trong Thư mục Trương Vĩnh Ký (số 126, 131, 132), phần những tác phẩm chưa in.

Không hiểu sao giáo sư Nguyễn Văn Trung lại viết câu: cuối cùng do chính Trương Vĩnh Ký ghi. Câu này không đúng, bởi vì trong Thư mục Trương Vĩnh Ký viết tay, chỉ có tên ba cuốn sách ghi số 126, 131và 132, mà không có tên cả 6 cuốn sách này.

Bởi vì, hai cuốn Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales (Khảo luận về sự tương đồng giữa những ngôn ngữ và chữ viết phương Đông) Analyse comparée des pricipales langues du monde (Phân tích so sánh những ngôn ngữ chính trên thế giới) mà Nguyễn Văn Trung xếp lên đầu chính là hai cuốn sách «ma» của Jean Bouchot chúng tôi đã nói ở trên. Và giáo sư còn xác nhận một vài thư mục khác do những người đã có dịp đến nhà Trương Vĩnh Ký được gia đình cho xem tận mắt tài liệu sách bản thảo chưa in. Ông thừa biết người nghiên cứu chỉ có thể tin được những gì mình đọc, mà không thể tin những điều nghe người ta nói lại.

«Nổi tiếng» hơn cả là cuốn Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales» xin gọi tắt là La similitude.

- Để hỗ trợ cho xác định của mình, giáo sư Trung đưa ra tên ba tác giả Pháp nữa đồng thanh ca tụng cuốn La similitude, ông viết:

1- Luro (Giám đốc Collège de Stagiaires [Trường Hậu Bổ] viết: «Khảo luận về các ngôn ngữ phương Đông mà Trương Vĩnh Ký báo cho ông (chỉ Toàn quyền Đông Dương- chú thích Nguyễn Văn Trung), [La similitude] là cuốn sách có công rất lớn thật độc đáo vì lẽ đó là cuốn sách đầu tiên về ngữ học do một người bản xứ viết[15]

2- «Jean Bouchot, chuyên môn văn khố và là nhân viên Trường Viễn Đông Bác Cổ, trong cuốn sách viết về Trương Vĩnh Ký đã có nói về cuốn Essai sur la similitude. Sau khi nhận định những cuốn Trương Vĩnh Ký biên khảo về ngữ pháp trong những giáo trình dạy học tiếng Việt chưa đạt trình độ khoa học cao, ông nói:«…Cuốn này [La similitude] đã tức thời kéo ông ra khỏi hàng ngũ các thầy giáo và đưa ông vào con đường khoa học thuần tuý. Công trình nghiên cứu này đã được hầu hết các nhà bác học chuyên môn nhất chấp thuận...»[16]

3- Người Pháp thứ ba được Nguyễn Văn Trung nhắc tới, là Pierre Veillard: «cũng đánh giá Trương Vĩnh Ký tương tự những người trước ông: «… Cuốn này [La similitude] đã đưa ông ra khỏi hàng ngũ những người làm  phổ thông và xếp ông một cách đương nhiên tức khắc vào hàng những nhà thông thái»[17].

Tất cả những lời khen tặng tuyệt vời này đều dành cho cuốn sách «Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales» Bouchot khai sinh ra. Chúng tôi ngờ rằng Luro và Bouchot -đều là công chức của chính quyền thuộc địa- đồng tâm bày đặt ra một cuốn sách «ma», ly kỳ, đặt tên hết sức «khoa học», để đưa Trương Vĩnh Ký lên địa vị «nhà bác học», «nhà thông thái», và để «dẫn dắt» trí thức Việt Nam -phần lớn đều coi sự «công nhận» của Pháp là một vinh dự- đi vào con đường của họ.

Thậm chí giáo sư Nguyễn Văn Trung còn viết:

«Sở dĩ ông [Trương Vĩnh Ký] được giới khoa học Tây phương đương thời chấp nhận là vì ông ngang tầm với  họ: am hiểu những vấn đề họ đặt ra, và nắm vững kiến thức về các ngành khoa học đạt được thời đó. Ông còn có những quen biết cá nhân với những người nổi tiếng như Dutruy [Duruy] Victor Hugo, Renan, Littré, Paul Bert. Họ cảm phục ông không không chỉ vì trí thông minh, trình độ hiểu biết mà nhất là thái độ khiêm tốn trí thức của ông.»[18]

Tôi rất kính phục giáo sư Nguyễn Văn Trung trong cách làm việc nhanh và đúng của ông, cách đưa triết học hiện sinh vào phê bình văn học, và những tác phẩm chủ yếu về chế độ thực dân của ông đã làm nhiều người mở mắt ra; nhưng trên hết, ở ông, là tinh thần tự tin, tự trọng của người Việt trước người Âu. Khi ông sang Pháp khoảng năm 2000, vào lúc người ta kỷ niệm 100 năm ngày giỗ Trương Vĩnh Ký, tôi đã dành một cuộc phỏng vấn rất dài về sự «xét lại» Trương Vĩnh Ký của ông trên đài RFI, như một kẻ bàng quan, vì lúc đó tôi chưa nghiên cứu Trương Vĩnh Ký. Trong bài này phỏng vấn này, giáo sư Nguyễn Văn Trung cho biết: «Lúc đó, tôi biên khảo Lục châu học và Trương Vĩnh Ký là để tạ lỗi với miền Nam nói chung và với Trương Vĩnh Ký nói riêng»[19].

Bây giờ, đọc lại cuốn Trương Vĩnh Ký nhà văn hóa của ông, tôi cho rằng, có lẽ vì ông viết để «tạ lỗi» và bị tình cảm chi phối, nên ông đã viết nhiều điều rập theo lời Bouchot, mà không kiểm chứng. Ngoài ra, ông còn dành một chương viết về việc đặt tượng đài cho Trương Vĩnh Ký, là điều rất phù phiếm đối với một nhà văn, bởi tác phẩm của họ chính là những tượng đài vô hình, sống thường trực trong lòng độc giả. Nguyễn Du, Nguyễn Trãi không cần tượng đài.

 

Giáo sư Cao Xuân Hạo

Nhà ngữ học Cao Xuân Hạo, trong bài Trương Vĩnh Ký trong lịch sử ngôn ngữ học Việt Nam[20], kê khai những công trình ngữ học mà Trương Vĩnh Ký soạn thảo, tới 8 cuốn:

1- Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales

2- Analyse comparée des principales langues du monde.

3- Etude comparée sur les langues, les écritures, les croyances et les mœurs de l'Indochine.

4- Combinaisons des systèmes conventionnels d'écritures idéographiques, hiéroglyphiques, phonétiques et alphabétiques.      

5- Étude comparée des écritures et des langues des trois branches  linguistiques.

6- Cours pratique de la langue annamite.

7- Grammaire de la langue annamite.

8- Abrégé de grammaire annamite (trang 161-162).

Trong 8 cuốn sách này, 5 cuốn đầu, chép lại danh sách của Nguyễn Văn Trung. Còn ba cuốn sau, số 6, số 7 và số 8, là sách Trương Vĩnh Ký viết vể văn phạm tiếng Việt, nếu đôn lên là sách ngữ học, chúng tôi e có vấn đề ngữ tự không ổn.

Việc giáo sư Cao Xuân Hạo chỉ đọc có độc một cuốn Grammaire de la langue annamite- Sách mẹo tiếng An Nam, mà đã đưa Trương Vĩnh Ký lên hàng «bác học», là khá vội vàng.

Ông cho biết: «Sau khi đọc kỹ trong nhiều năm cuốn ngữ pháp của Trương Vĩnh Ký (1883)» ông đưa ra ba nhận định:

1- Ông [Trương Vĩnh Ký] đã thấy rằng những từ sau này bị gọi lầm là «loại từ» thật ra là những «danh từ», và ông là người duy nhất kê được danh sách các danh từ thuộc loại ấy (noms numériques) gồm hơn 200 từ.

2- Ông đã miêu tả các ý nghiã «cách» (case meanings) của tiếng Việt một cách xác đáng và tinh tế, vượt lên trên những tác giả của «ngữ cách pháp» (case grammar- dùng cho các ngôn ngữ không biến hình) của thập kỷ 70.

3- Ông tránh được rất nhiều sự lầm lộn và gò ép bắt nguồn từ cách nhìn «dĩ Âu vi trung» (européocentrisme) mà các tác giả đi sau, kể từ Lê Văn Lý đã mắc phải.[21]

Là người ngoại đạo về ngữ học, chúng tôi không dám «phê bình» chi cả, chỉ xin có một ý kiến nhỏ: Ba nhận định này không chứng tỏ Trương Vĩnh Ký là nhà ngữ học, theo định nghiã của ngữ học hiện đại.

Nhất là khi đọc câu này của Cao Xuân Hạo: «...trong khi chờ đợi những công trình nghiên cứu kỹ lưỡng hơn về tư tưởng ngữ học của nhà bác học lỗi lạc nhất của ta trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX...»[22] người đọc lại càng băn khoăn hơn về sự phát ngôn mạnh mẽ của vị giáo sư ngữ học nổi tiếng này, lối «nhận định» của ông dường như đã dẫn đường cho những vinh thăng thái quá trong các văn bản sau này của nhiều người viết về Trương Vĩnh Ký.

(còn tiếp)
Thụy Khuê
thuykhue.free.fr


 

[1]          Nguyễn Văn Trung, Trương Vĩnh Ký nhà văn hóa, nxb Hội Nhà Văn, 1993, trang 109-131.

[2]              Trương Vĩnh Ký, Petit dictionnaire français-annamite à l'usage des écoles et des bureaux, do Imprimerie C. Ardin, Saigon, in năm 1937.

[3]          Nguyễn Văn Trung, Trương Vĩnh Ký nhà văn hóa, nxb Hội Nhà Văn, 1993, trang 68.

[4]              Jean Bouchot, Petrus J.B Truong Vinh Ky, un Savant et un Patriote Cochinchinois - Trương Vĩnh Ký, một Nhà bác học và Nhà ái quốc người Nam Kỳ, (1925).

[5]          Nguyễn Đình Đầu, Trương Vĩnh Ký nỗi oan thế kỷ, Nhã Nam, 2016, sách bị tịch thu, nhưng đã để trên Internet.

[6]          Những sách tên chữ nho được Nguyễn Văn Trung dịch sang quốc ngữ, trang 107.

[7]          Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, trang 73.

[8]              Nguyễn Đinh Đầu, Trương Vĩnh Ký nỗi oan thế kỷ, trang 55-58.

[9]          Xem Thụy Khuê, Phê bình văn học thế kỷ XX, Công ty Nhã Nam và Nxb Hội Nhà Văn, 2017, Chương 5: Ngôn ngữ học, trang 137-168.

[10]            in trong Bulletin de l'Ecole française d'Etrême-Orient, 1903, trang 657-660.

[11]         Đào Duy Anh, Chữ nôm, nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, (Nxb Đông Nam Á, Sudestasie, Paris) Tựa, trang 9.

[12]         Trích bài Tựa sách Trương Vĩnh Ký- Biên khảo của Lê Thanh, do Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố viết; Phổ thông chuyên san, Tân Dân, Hà Nội, 1941.

[13]         Nguyên văn tiếng Pháp: Cet «Essai sur la Similitude des langues et des écritures orientales» par exemple, qui le tire tout d'un coup du milieu des magisters pour l'entrainer sur les voies de la science toute pure. Cette dernière œuvre obtint une approbation quasi unanime de la part des savants les plus qualifiés: la méthode s'y révélait ferme et murement élaborée, le raisonnement y paraissait irréfutable, et les conclusions en furent communément admises, ce qui n'est pas une mince gloire dans le domaine ordinairement chicaner de la sinologie» (Bouchot, trang 32)

[14]         Trương Vĩnh Ký nhà văn hoá của Nguyễn Văn Trung, Nxb Hội Nhà Văn 1993, trang 138-140.

[15]            Nguyễn Văn Trung, Trương Vĩnh Ký nhà văn hoá , Nxb Hội Nhà Văn 1993, trang 141.

[16]         Nguyễn Văn Trung, Trương Vĩnh Ký nhà văn hoá, trang 141

[17]            Nguyễn Văn Trung, Trương Vĩnh Ký nhà văn hoá, trang 142

[18]         Nguyễn Văn Trung, Trương Vĩnh Ký nhà văn hoá, trang 142

[19]            Bài này được người ta ghi âm và chép lại, có thể đọc trên mạng: petruskyaus.net

[20]            In trong Trương Vĩnh Ký nhà văn hoá của Nguyễn Văn Trung, Nxb Hội Nhà Văn 1993, (Phụ lục (Phần II.2), trang 160-168.

[21]         Trương Vĩnh Ký nhà văn hoá của Nguyễn Văn Trung, Nxb Hội Nhà Văn 1993, trang 160-161.

[22]         Trương Vĩnh Ký nhà văn hoá của Nguyễn Văn Trung, Nxb Hội Nhà Văn 1993, trang 162.

 


© 2025 Thụy Khuê