|
Lịch sử truyền giáo và chữ quốc ngữ Chương 11.7 Trương Vĩnh Ký (1837-1898) VII: Cuộc xâm lăng của Pháp dưới ngòi bút Trương Vĩnh Ký
Jean Bouchot, tác giả cuốn chân dung nổi tiếng về Trương Vĩnh Ký «Un savant et un patriote cochinchinois Petrus J.B. Trương Vĩnh Ký (1837-1898) (Một nhà bác học yêu nước người Nam kỳ: Trương Vĩnh Ký)[1], viết về công lao của Trương Vĩnh Ký, nhấn mạnh đến sự giảng dạy tiếng Pháp, viết sách sử địa để giáo dục thiếu niên và phục vụ những người Pháp đầu tiên đến cai trị Nam kỳ, qua thành quả vượt bực của những tác phẩm mà ông Trương là tác giả: «Trong nghị định ngày 20-2-1873, do đô đốc Pothuau soạn thảo [được ban hành] để cải tổ Đội ngũ Thanh Tra (Corps de l'Inspection) và thiết lập trường Hậu bổ (Collège des Stagiaires) dưới sự điều khiển của Đai úy Hải quân Luro, Trương Vĩnh Ký được bổ làm giáo viên dạy chữ quốc ngữ và chữ Hán. Những giáo trình của ông, do ban giám đốc trường này in thạch bản, hiện vẫn còn là những bài giảng dễ hiểu và có phương pháp nhất. Nhưng việc in ấn không chỉ giới hạn trong các giáo trình này; người ta nói rất đúng rằng, ông ta là người An Nam đầu tiên và duy nhất, trong một thời gian rất dài, đã cố gắng giảng dạy cho đồng bào của ông những điều cơ bản về tiếng Pháp với những sách giáo khoa chuẩn bị kỹ càng, hoàn toàn có khả năng phục vụ cho lợi ích của văn hóa chúng ta; nhưng phải công nhận rằng, song song với việc đó, con người không biết mỏi mệt này, qua việc dịch thuật khéo léo, trình bày ngắn gọn, cô đọng và có hệ thống những cuốn sách sử biên niên của An Nam và địa lý Nam kỳ, đã phục vụ đắc lực cho những nhà cai trị đầu tiên. Thực thế, giữa 1863 và 1875, Petrus Ký cho in một loạt tác phẩm đáp ứng đúng nhất và đáng mừng nhất cho những đòi hỏi của thời đó»[2]. Sau đó Bouchot nói đến hai cuốn sách sử điạ: «Năm 1875, nhà in của Chính phủ địa phương [Nam Kỳ] in cùng một lúc hai cuốn «Petit Cours de géographie de la Basse-Cochinchine» (Tiểu giáo trình địa lý Nam Kỳ) và «Cours d'histoire annamite à l'usage des Ecoles de la Basse-cochinchine» (Giáo trình lịch sử An Nam dùng trong các trường ở Nam kỳ) đều gặt hái được những thành công vang dội. Đặc ân dành cho hai cuốn sách này là đây: Cuốn «Tiểu giáo trình địa lý Nam kỳ» tóm tắt cho những người ngoại quốc mới đến tất cả những yếu tố cơ bản liên quan tới vùng đất vừa mở cửa này, mà cho tới đó, họ chỉ mới khám phá qua những bản đồ vẽ từ thế kỷ XVIII của Dayot và Brun[3] hay đầu thế kỷ XIX của Giám mục Taberd. Tác giả [Trương Vĩnh Ký] lấy cớ viết sách cho học trò, nhưng trên thực tế, ông viết cho một công chúng rộng lớn hơn, luôn luôn biểu lộ sự tò mò ham biết đến độ đam mê. Tuy nhiên, dường như cuốn «Cours d'Histoire annamite» (Giáo trình Lịch Sử An Nam) chiếm được sự ủng hộ của tuyệt đại đa số.»[4] Và Bouchot nhắc lại sự kiện: Trước khi cuốn Cours d'histoire annamite của Trương Vĩnh Ký ra đời, người Pháp đến Nam Kỳ không có sách gì ngoài cuốn Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức do Aubaret dịch sang tiếng Pháp năm 1863 dưới tên Histoire et description de la Basse-Cochinchine (Lịch sử và mô tả Nam Kỳ) và loạt bài Les Notes historiques sur la nation annamite (Những ghi chép lịch sử về dân tộc An Nam) của cha Legrand de la Liraye in trên báo Le Courrier de Sai gòn, cuối năm 1865.»[5] Những thông tin này không sai, xác nhận Trương Vĩnh Ký là người đầu tiên dạy sử và viết sách sử-địa về Việt Nam bằng tiếng Pháp, và ông đã trình bày ba điều cơ bản để quảng bá công trạng và chính nghiã của Pháp khi họ đánh chiếm nước ta: 1- Bá Đa Lộc và các «sĩ quan» Pháp đã giúp Nguyễn Ánh dựng lại cơ nghiệp nhà Nguyễn. 2- Ba mươi thành trì ở nước ta, kể cả thành Huế và thành Thăng Long đều do các «sĩ quan» Pháp xây theo mẫu thành Vauban. 3- Nhà Nguyễn đã gây ra mọi «tội ác»: đặc biệt Minh Mạng tàn ác, bế quan toả cảng, giết đạo, khiến nước Pháp phải «can thiệp» vào Việt Nam để cứu dân, cứu đạo. Đứng đầu và ra đời sớm nhất trong bộ sách sử địa này là Cours d'histoire annamite (Giáo trình lịch sử An Nam), in năm 1875 và 1879, hai cuốn, viết bằng tiếng Pháp, khơi mào cho những người viết lịch sử Pháp-Việt đi sau về ba điểm vừa nêu ra ở trên. Năm 1885, Trương Vĩnh Ký công bố cuốn sách thứ hai, tiếng Pháp, xưng tụng công lao những người Pháp đã xây dựng các thành trì: đó là bài diễn văn ông đọc tại Trường Thông Ngôn tựa đề «Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs» (Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận), nhắc lại «tội ác» của Minh Mạng và xác nhận lại rằng thành Gia Định do Olivier de Puymanel xây; mở đầu chiến dịch tuyên truyền: tất cả thành quách ở Việt Nam (gồm 30 thành trì, 8 thành do vua Gia Long đắp và 22 thành do vua Minh Mạng xây) đều là thành Vauban do các «sĩ quan» Pháp xây cả! Năm 1891, Trương Vĩnh Ký cho in cuốn sách thứ ba, tiếng Việt, tựa đề: Biên tích Đức thầy Vê Rô giúp Đức Cao Hoàng phục nghiệp, tôn vinh công trạng Bá Đa Lộc đã «giúp Nguyễn Ánh dựng nghiệp» bằng cách bỏ tiền ra mua vũ khí và đưa các «sĩ quan» Pháp đến giúp Nguyễn Ánh thành lập quân đội, huấn luyện theo phương pháp của Tây và điều khiển cuộc chiến chống Tây Sơn đến thành công. Với ba cuốn sách nền tảng này, Trương Vĩnh Ký đã nhìn nhận Pháp như một vị cứu tinh mà ta phải ghi ơn: nước Pháp đã can thiệp vào Việt Nam để cứu giáo dân bị tàn sát, họ xây dựng các thành trì trong nước và đưa dân tộc ta ra khỏi trình trạng bị triều Nguyễn đàn áp, bóc lột. Các sử gia Pháp, sau Trương Vĩnh Ký đồng loạt lập lại những «sự thật lịch sử» trên đây. Rồi các sử gia Việt như Trần Trọng Kim, Phan Khoang... cũng tin những điều kết tội nhà Nguyễn của Trương Vĩnh Ký mà không nghiên cứu lại. Sự việc kéo dài cho đến năm 1997, ông Nguyễn Đình Đầu, tác giả bản dịch bài diễn thuyết Ký ức lịch sử về Sài gòn và các vùng phụ cận của Trương Vĩnh Ký, còn in thêm nhiều bản đồ của Pháp vẽ các thành Vauban để «minh chứng» việc các «sĩ quan» Pháp xây dựng thành Vauban ở Việt Nam; trong khi tất cả những thành trì còn nguyên vẹn của chúng ta, từ Huế đến Sơn Tây, đều không có gì là Vauban cả! Ảnh hưởng của Trương Vĩnh Ký về lịch sử và địa lý thực vô cùng sâu rộng. Là người có mặt trong buổi đầu khi Pháp đếm xâm chiếm nước ta, Trương Vĩnh Ký nhận công tác viết lại lịch sử theo quan điểm thực dân và ông đã thành công trong nhiệm vụ người Pháp giao phó. Lịch sử Việt Nam, dưới nhãn quan của Trương Vĩnh Ký, không chỉ sai lầm từ thời Pháp xâm lăng, mà từ trước. Bởi lịch sử của một dân tộc, khởi đi từ rất xa, từ tên nước: Mà tên nước ta, từ thời tự chủ, trải các triều Lý, Trần, Lê, là Đại Việt. Gia Long đổi thành Việt Nam. Minh Mạng đổi thành Đại Nam, đó là ba tên chính thức. Nhưng người Tầu vẫn tiếp tục gọi nước ta là An Nam, tên do nhà Đường đặt, để xác định một nghìn năm đô hộ của họ. Người Pháp lấy lại hai chữ An Nam này, để chỉ định sự chiếm hữu một trăm năm. Trương Vĩnh Ký là sử gia Việt đầu tiên gọi tên nước là Annam. Đó là sự phản bội thứ nhất: phản bội quốc hiệu.
Gia Long với sắc lệnh 1804, đặt quốc hiệu là Việt Nam Sau khi thống nhất đất nước, năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long. Năm 1804, ông ban hai sắc lệnh quan trọng: Sắc lệnh 6-3-1804, xác định 5 điều cơ bản để dạy dân. Và Sắc lệnh 28-3-1804, đặt tên nước là Việt Nam: - Ngày 31-5-1802 (1-5-Nhâm Tuất) Nguyễn Vương lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Gia Long. Ngày 20-6-1802 (21-5-Nhâm Tuất), Gia Long rời Huế ra Bắc, đem hoàng tử thứ tư (sau này là Minh Mạng) đi theo, để hoàn tất việc thống nhất đất nước và giao miền Bắc cho Nguyễn Văn Thành quản trị. Ngày 24-10-1802 (28-9-Nhâm Tuất), Gia Long rời Thăng Long về Huế. -Ngày 19-9-1803 (4-8-Quý Hợi) Gia Long ra Bắc nhận sắc phong của nhà Thanh. Ngày 29-11-1803 (16-10-Quý Hợi) đến Thăng Long, ngày 23-2-1804 (13-1- Giáp Tý), nhận sắc phong. Ngày 2-3-1804 (ngày Tân Hợi 21-1-Giáp Tý) vua rời Thăng Long về Huế[6]. Ngày 6-3-1804 (ngày Ất Mão 25-1-Giáp Tý), Gia Long về đến Thanh Hoa [Thanh Hoá] làm lễ tế tổ và hạ sắc lệnh quan trọng đầu tiên, tức là Sắc lệnh 6-3-1804, định điều lệ hương đảng cho các xã dân ở Bắc Hà, nhưng thực ra là để dạy dân 5 điều cơ bản: 1- Về tiết ăn uống. 2- Về lễ vui mừng. 3- Về lễ giá thú. 4- Về việc tang tế. 5- Việc thờ thần thờ Phật.[7] Bốn điều đầu, có tính cách giáo huấn phong tục. Điều thứ năm, răn dạy tôn giáo: giới hạn sự truyền bá hai đạo Phật và Gia Tô.[8] Ngay buổi đầu triều, Gia Long đã nghĩ đến việc giới hạn ảnh hưởng của hai đạo này trong đời sống xã hội. Ngày Mậu Thìn, 8 tháng 2 Giáp Tý, (19-3-1804), Gia Long về đến Kinh sư. Ngày Quý Dậu, 13 tháng 2 Giáp Tý (24-3-1804), yết Thái miếu. Đặt quốc hiệu là Việt Nam. Ngày Đinh Sửu 17 tháng 2, Giáp Tý, hạ Sắc lệnh 28-3-1804, chính thức đổi tên nước: "... Ngày 17 tháng 2 năm nay [Giáp Tý], kính cáo Thái Miếu, cải chính quốc hiệu là Việt Nam, để dựng nền lớn, truyền lâu xa. Phàm công việc nước ta việc gì quan hệ đến quốc hiệu và thư từ báo cáo với nước ngoài, đều lấy Việt Nam làm tên nước, không được quen xưng hiệu cũ là An Nam nữa..."[9]. Xin nhắc lại sơ lược vấn đề quốc hiệu: Từ khi thoát ách đô hộ của Trung Hoa, nước ta đã có quốc hiệu là Đại Việt: Ngày 1-10 năm Giáp Ngọ (1054), Lý Thánh Tông lên ngôi. Đặt quốc hiệu là Đại Việt[10]. Kể từ đó trải các thời đại: Lý, Trần, Hồ, Lê, Nam Bắc Triều, Trịnh Nguyễn, Tây Sơn, đến khi Gia Long lên ngôi (1802) quốc hiệu này không thay đổi. Tên An Nam vẫn được người Trung Hoa sử dụng trong các văn bản sử sách, văn thư ngoại giao của họ. Người Việt, phần lớn chép theo sách Tàu, đôi khi cũng gọi nước mình là An Nam. Nhưng kể từ ngày 17 tháng 2 năm Giáp Tý, tức là ngày 28-3-1804, Gia Long đặt tên nước là Việt Nam, không cho dùng hai chữ An Nam, tượng trưng cho sự nô lệ cũ nữa. Khi Minh Mạng lên ngôi, đổi tên nước là Đại Nam, tức Đại Việt-Nam. Là một học giả uyên bác, nhà vua đã nghiên cứu kỹ càng quyết định này và giải thích: Nước ta, từ thời Lý, Trần, Lê tên nước là Đại Việt. Tên này chỉ phần đất xưa với dân cư ở phiá Bắc [ý nói từ Thuận Hoá (Huế) trở ra Bắc] và phần đất Lĩnh Nam [tức Lưỡng Quảng] ngày trước của ta nhưng sau này trở thành đất Tầu. Từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hoá, xây dựng nên cơ nghiệp nhà Nguyễn ở phương Nam và Gia Long thống nhất đất nước từ Nam ra Bắc, thì bờ cõi nưóc ta đã hết sức mở rộng, tên Đại Việt không còn phù hợp nữa, phải đổi là Đại Nam. Đại Nam Thực Lục viết: "Mậu Tuất, Minh Mệnh năm thứ 19 [1838]. Mùa xuân, tháng 3, ngày Giáp Tuất [27-3-1838], mới định quốc hiệu là nước Đại Nam"[11]. Dụ của vua như sau: "…Nay bản triều có cả phương Nam, bờ cõi ngày càng rộng, một giải phía đông đến tận biển Nam, vòng qua biển Tây, phàm là người có tóc có răng, đều thuộc vào trong đồ bản, bãi biển xó rừng theo về cả, trước gọi là Việt Nam, nay gọi là Đại Nam, càng tỏ nghiã lớn, mà chữ Việt cũng vẫn ở trong đó (...) Chuẩn cho từ nay trở đi, quốc hiệu phải gọi là nước Đại Nam, hết thảy giấy tờ xưng hô, phải chiếu theo đó tuân hành, gián hoặc có nói liền là nước Đại Việt Nam, về lẽ vẫn phải, quyết không được nói lại 2 chữ Đại Việt (...) phải lấy năm Minh Mệnh thứ 20 làm bắt đầu đổi chép chữ Đại Nam ban hành, để chính tên hiệu và khắp các nơi xa gần"[12] Quốc hiệu Đại Nam được dùng tới thời Bảo Đại. Trong tế Nam Giao, văn tế mở đầu bằng câu: "Đại Nam quốc, tuế thứ... "Tiểu thần Nguyễn Văn B... phụng ngự chiếu của đức Việt Nam Hoàng đế, kế thế các Tiền triều liệt thánh..."[13] Vua Bảo Đại xưng mình là Hoàng đế Việt Nam, có lẽ vì nước ta lúc bấy giờ đã bị Pháp chiếm, chỉ còn miền Trung thuộc triều đình, nên hai chữ Đại Nam của vua Minh Mạng không còn phù hợp, ông dùng chữ Việt Nam của vua Gia Long, và hai chữ này đến nay vẫn còn tồn tại. Tóm lại, trong mọi hoàn cảnh, từ xưa đến nay, tên nước ta không bao giờ là Annam như Trương Vĩnh Ký ghi trong sách sử của ông.
Gọi tên nước là Annam Được giao nhiệm vụ dạy sử cho học trò ở Nam Kỳ, Trương Vĩnh Ký đã tạo ra «một lịch sử mới»: Công nhận việc đô hộ là tất yếu, bởi vì Pháp là một nước văn minh, họ đến đây với «nhiệm vụ giải phóng» và «khai hoá» chúng ta. Điều đầu tiên để chứng minh nhiệm vụ cao quý này, là phải hạ thấp nước Việt bằng cách gọi tên nước với ngôn từ thuộc địa: Annam. Chữ Annam, do người Pháp sử dụng để chỉ nước Đại Nam, là tên chính thức do vua Minh Mạng đặt. Pháp lấy lại tên An Nam đô hộ phủ của nhà Đường (618-939), ngụ ý nước Việt chỉ là một phủ của nước Tầu, và coi nước ta như một Annam đô hộ phủ của Pháp. Nhưng sự hạ nhục không dừng lại ở đấy, tệ hơn nữa: họ còn gọi người Việt là Annamite. Trong tiếng Pháp, tiếp vĩ ngữ ite đặt vào đuôi một chữ, chỉ sự bị nhiễm trùng, như gastrite (nhiễm trùng dạ dầy), ở đây họ kết hợp ite với chữ m trong Annam, thành mite, nghiã là con bọ chuyên cắn quần áo (gián, nhậy). Tóm lại: Cái tên Annam đã hạ thấp nước ta thành một phủ bị đô hộ như thời nhà Đường. Chữ Annamite coi người Việt là sâu bọ. Phải đến năm 1954, khi Pháp hoàn toàn bị đuổi khỏi Việt Nam, ngôn từ của họ bắt đầu thay đổi, và họ dùng chữ Vietnamien, để coi người Việt là người: lúc ấy họ mới nhìn nhận chúng ta là người Việt. Tuy nhiên đến những năm 1960, khi chúng tôi sang Pháp, chữ annamite vẫn thịnh hành, và người Việt ở Pháp thường tự trào gọi mình là «mít». Một học giả như Trương Vĩnh Ký, tất hiểu lịch sử mỗi chữ mình dùng và biết rõ nguồn gốc, sắc thái của chữ đó, khó có thể chấp nhận từ Annam cho nước mình; vậy mà, không những ông là người đầu tiên dùng chữ Annam làm tên sách sử, mà ông còn đưa chữ annamite vào hầu hết những tên sách khác của ông, tức là không những ông chấp nhận tiền đề là nô lệ Pháp, mà ông còn ủng hộ việc họ coi người mình như gián, nhậy, đưa con chữ ô nhục này của họ lên tựa một số tác phẩm chính của ông: - Abrégé de grammaire annamite,1867 [Tóm lược văn phạm An Nam]. - Contes annamites- Chuyện đời xưa, 1867. - Cours pratique de langue annamite à l'usage du Collège des interprètes, 1868 [Bài giảng thực hành tiếng An Nam dùng trong Trường thông ngôn]. - Cours d'histoire annamite, 1875 và 1879. [Giáo trình lịch sử An Nam]. - Manuel des écoles primaires - Syllabaire quốc ngữ- Histoire annamite- Histoire chinoise, 1876 [Sách giáo khoa bậc tiểu học (dạy học trò trường Hậu Bổ) - Vần quốc ngữ - Lịch sử nước Nam- Lịch sử Trung Hoa] - Histoire annamite en vers - Đại Nam Sử ký diễn ca, 1875 [phiêm âm sang quốc ngữ cuốn Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát, do Phạm Đình Toái biên tập]. - Cours de langue annamite autographiée, 1876 [Giáo trình tiếng Annam, in thạch bản] Người bênh vực ông có thể cho rằng: sống dưới thời Pháp thuộc, ông bắt buộc phải dùng chữ Annam và annamite, như người Pháp. Chúng tôi không nghĩ thế. Người Pháp, dù đi xâm lăng nước khác, nhưng họ vẫn là công dân một nước có truyền thống dân chủ từ cách mạng 1789, họ biết tôn trọng quyền chữ nghiã của người khác. Trương Vĩnh Ký là người theo họ và được trọng dụng, phải có quyền dùng chữ. Ngoài ra, một người thành thạo chữ nghiã luôn luôn có cách điều khiển ngôn ngữ theo đúng ý mình, tránh dùng những chữ có nghiã xấu quá lộ liễu như annamite. Trương Vĩnh Ký, ngược lại, khi dịch những tên sách không dính dáng gì đến chữ annamite như Chuyện đời xưa hay Đại Nam quốc sử diễn ca, vẫn cố tình nhét chữ annamite vào, thành Contes annamites (Cổ tích An Nam), hay là dịch cái tựa Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát, bằng Histoire annamite en vers (Lịch sử An Nam bằng thơ). Nếu ta xem lại tên sách của một số sử gia nổi tiếng người Pháp viết sau ông, vào thời kỳ nước Pháp đã làm chủ cả Đông Dương, họ bắt buộc phải dùng chữ Annam vì không có chữ nào khác, nhưng họ vẫn tránh hạ thấp người Việt: Sử gia Charles Gosselin, tác giả cuốn L'Empire d'Annam (Đế quốc An Nam), in năm 1904. Sử gia Charles B. Maybon viết cuốn Histoire moderme du Pays d'Annam (1592-1820) (Lịch sử hiện đại nước An Nam (1592-1820), in năm 1920. Sử gia François Guillemot, sau này, dùng tên Đại Việt để chỉ nước ta trên tựa sách của ông: Đại Việt indépendance et révolution au Việt nam (Đại Việt, độc lập và cách mạng Việt Nam), in năm 2012. Trương Vĩnh Ký tự ý chọn chữ An Nam, trong khi tiếng Việt có tới ba chữ: Đại Việt, Việt Nam hay Đại Nam, và ông dùng nhiều lần chữ annamite trong các tên sách của ông, khác hẳn với Huỳnh Tịnh Của, cùng thời, đã đặt tên bộ tự điển của mình là Đại Nam Quấc âm tự vị. Là học giả, chuộng sự chính xác, Huỳnh Tịnh Của dùng tên Đại Nam, là tên chính thức do vua Minh Mạng đặt. Sau này Bảo Đại dùng cả hai tên Đại Nam và Việt Nam, rồi từ thời Bảo Đại về sau, có lẽ thấy Đại Nam không còn phù hợp với một giang sơn đã bị Pháp chiếm hơn một nửa, không còn là một lãnh thổ rộng lớn như dưới thời vua Minh Mạng nữa, nên chữ Việt Nam được nhiều người sử dụng và trở thành tên chính thức. Cuốn Cours d'Histoire Annamite (Giáo trình lịch sử An-Nam) của Trương Vĩnh Ký in năm 1875, lúc đó triều đình Huế đã ký xong hòa ước Giáp Tuất ngày 15-3-1874, và theo hòa ước này, nước ta chỉ còn miền Trung là thuộc triều đình Huế, miền Trung được người Pháp gọi là Annam. Miền Nam đã mất hẳn cho Pháp, được họ gọi là Cochinchine (Nam kỳ) và miền Bắc là Tonkin (Bắc kỳ) sẽ trở thành thuộc địa bán chính thức của Pháp.[14] Chiếm xong Nam Kỳ, Pháp chia nước ta làm ba phần và đặt tên như sau: Lục tỉnh, được họ gọi là Basse-Cochinchine hay Cochinchine française, tức là Nam kỳ thuộc Pháp. Miền Trung, thuộc triều đình Huế, họ gọi là Annam. Và miền Bắc được gọi là Tonkin (trên giấy tờ chỉ có Hà Nội là thuộc địa Pháp, nhưng trên thực tế đã do Pháp cai trị cả rồi). Khi gọi tên nước là Annam, Trương Vĩnh Ký không những dùng chữ của người Pháp, mà ông còn chấp nhận việc bờ cõi nước ta thu gọn trong miền Trung. Câu đầu bài Tựa cuốn Histoire moderne du pays d'Annam (Lịch sử hiện đại nước An nam) của Maybon, in năm 1920, Henri Cordier viết: «Trong một thời gian dài, cuốn «Cours d'histoire annamite» của Trương Vĩnh Ký, in năm 1875, là tác phẩm duy nhất mà độc giả người Pháp có thể đọc được.» Viết cuốn sử đầu tiên cho người Việt học, người Pháp đọc, Trương Vĩnh Ký dùng hai chữ Annam như tên chính thức của nước Việt Nam, và trong một bài dạy ngữ vựng, ông giải thích An Nam có nghiã là miền Nam bình yên, tức là ông lờ hẳn lịch sử «một ngàn năm đô hộ giặc Tầu» ngụ trong chữ Annam, đồng thời chối bỏ cả ba quốc hiệu Đại Việt, Việt Nam, Đại Nam của các thời kỳ tự chủ, để nhận quốc hiệu đô hộ. Đó là sự đầu hàng Pháp và phản bội dân tộc, đầu tiên.
Cuốn Biên tích Đức thầy Vê Rô giúp đức Cao Hoàng phục nghiệp
Cuốn sách giải thích tại sao chúng ta phải mang ơn người Pháp là Biên tích Đức thầy Vê Rô giúp đức Cao Hoàng phục nghiệp của Trương Vĩnh Ký, in năm 1897. Sách này có hai tên, trên trang bìa, ghi những hàng chữ sau đây: «Biên tích Đức thầy Vê Rô giúp đức Cao Hoàng phục nghiệp P.J.B.Trương Vĩnh Ký phụng thuật Đức thầy Dépierre Giám mục dạy in ra. Cuốn nhứt. Saigon, Claude & Cie, Imprimeri, Editeurs, 1897»
Ở trang trong, ghi tên thứ hai của cuốn sách, như sau: «Biên Tích Đức Thầy Vêrô Pinho Quận Công phò tá Nguyễn Ánh là đức Cao Hoàng (Gia Long Thế tổ Cao hoàng đế) phục quốc. Từ năm Bính Thân 1775 cho đến năm Kĩ vị 1798 Đức Thầy tạ thế Lại với tới năm Mậu Tuất 1892 cho cùng truyện. Sau có biên ra những văn tế vua, Đông cung cùng các quan triều điếu tế Đức thầy nữa. P.J.B.Tương Vĩnh Ký phụng thuật Đức thầy Dépierre Giám mục dạy in ra. Saigon Imprimerie &Librairie Nouvelles 1897» Cái tên thứ hai này: Biên Tích Đức Thầy Vêrô Pinho Quận Công phò tá Nguyễn Ánh là đức Cao Hoàng (Gia Long Thế tổ Cao hoàng đế) phục quốc, đã nói rõ nội dung: viết về việc Đức thầy Vê-rô Pinho Quận công tức Bá Đa Lộc phò tá Nguyễn Ánh phục quốc. Sách này do Giám mục Dépierre sai Trương Vĩnh Ký viết ra. Chỉ có 48 trang. Theo bài Tiểu dẫn của Trương Vĩnh Ký (trang 3-4), sách được làm ra để sửa soạn cho lễ kỷ niệm 100 ngày giỗ Bá Đa Lộc (9-10-1799) và ghi nhớ công ơn của vị Giám mục đối với nước Nam. Trương Vĩnh Ký cho biết: «Truyện này là truyện 27 năm kể từ năm Bính Thân 1775 cho tới năm Nhâm Tuất 1802, chia làm 4 hồi như sau nầy: Đệ nhứt hồi: (xin tóm tắt): Bá Đa Lộc tình nguyện sang giảng đạo ở Annam, trong lúc việc bắt đạo đang gắt gao, và loạn lạc nổi lên, chúa Nguyễn [Phước Thuần] cùng cháu là Nguyễn Ánh bỏ kinh thành Huế, chạy vô Nam Kỳ, Bá Đa Lộc «ra tay phò tá giúp đỡ trong 18 năm, từ 1767 tới 1785». (trang 4-18). Đệ nhị hồi II: Bá Đa Lộc đưa Hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện (trang 18-27). Đệ tam hồi III: Bá Đa Lộc đem Hoàng tử Cảnh về cùng với «các sĩ quan, tầu bè súng ống, và 300 quân tình nguyện đi theo». Các sĩ quan Pháp điều khiển quân đội, xây thành đắp lũy, luyện tập quân lính. Bá Đa Lộc qua đời. (trang 27-43). Đệ tứ hồi IV: Từ sau khi Bá Đa Lộc qua đời đến năm Nhâm Tuất 1802: Nguyễn Vương nhờ tầu bè, vũ khí của Bá Đa Lộc; các «sĩ quan» Pháp tập luyện binh lính theo lối Tây và điểu khiển các trận đánh tới Huế, rồi ra Bắc. Vương lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long (trang 43- 48). Cuốn sách «Biên tích Đức thầy...» xác định Bá Đa Lộc là người giúp Nguyễn Ánh dựng lại cơ đồ nhà Nguyễn. Chép danh sách tên những «sĩ quan» Pháp đã giúp ông dựng nghiệp. Sách in năm 1897, 12 năm sau cuốn Giáo trình lịch sử An-Nam (1875). Những điểm nêu cao «công trạng của Bá Đa Lộc», với những con số tầu bè, khí giới và quân lính đem về, đều chép lại hoặc phóng tác theo cuốn Monseigneur Pigneau de Béhaine évêque d'Adran (Đức Giám mục Bá Đa Lộc) của Alexis Faure, do nxb Augustin Challamel in ở Paris, năm 1891, không phù hợp với một thực tế nào. Chúng tôi trích lại mấy điểm tiêu biểu dưới đây: 1- Bá Đa Lộc bỏ tiền ra mua vũ khí cho Nguyễn Ánh: «[Đức Thầy] lại lấy của riêng cha mẹ cho hồi chưa về Tây tính việc, cũng được 1500 livres mà nhập với của lòng rộng rãi [của] các nhà hàng hải buôn bán ở tại cù lao L'Ile de France, cù lao Bourbon và xứ Pondichéry đã dan tay góp mà giúp vô. Đức thầy xuất ra mà mua từ năm 1788 được mấy chiếc tầu, chở súng lớn một trăm vị, súng tay mấy ngàn cây, thuốc đạn cụ túc đem về giúp vua Annam» (trang 27-28). Những dòng này hoàn toàn bịa đặt vì chính Bá Đa Lộc đã viết trong thư gửi cho Létondal, bề trên của ông ở Macao, như sau: «Tôi về với độc một trung hạm (une seule frégate) và nó lại phải lập tức đi Manille ngay»[15] 2- Danh sách «sĩ quan Tây tình nguyện với Đức thầy» sang giúp vua cai quản quân đội và xây dựng thành trì: - J.M. Dayot, «Thủy sư cai quản cả đạo thuỷ», dưới quyền có: Vannier, Chaigneau, Magon de Médine, de l'Isle sellé, Guillon, Guilloux, de Forcant, Desperles, Tardivet, Emmanuel. Malespine. - Lebrun vẽ họa đồ thành Gia Định. - Laurent Barizy coi việc lương thực. Trương Vĩnh Ký viết: «Lại có 350 lính thủy Tây tình nguyện...Từ đó vua phới phở phấn chí mà lo trừ Tây Sơn đánh lấy lần ra Huế là cựu đế đô nhà Nguyễn... Tháng 2, trong Năm [không rõ năm nào, nhưng theo mạch văn thì chắc là năm 1789] vua dạy ông Ollivier với ông Lebrun coi xây thành Gia Định tại làng Tân Khai, xây thành bát quái có 8 cửa, xây vách thành bằng đá ong Biên Hoà. Ông Ollivier lại lập ra một đạo binh để hộ giá, 6000 [lính] ăn mặc, mang gươm, súng, tập theo mão [mẫu] binh Tây. Còn chánh đạo chiến binh [quân chính quy] thì khi ấy được 5 muôn [vạn], ông Lieutenant Colonel de Barisy lo tập theo binh Tây dần dần» (trích các trang 31-32-33). Khi viết cuốn Vua Gia Long và người Pháp, chúng tôi đã tìm lại hồ sơ, tiểu sử và thư từ của những người lính thủy tình nguyện này thì thấy, ngoài trường hợp Mayot, đã từng là sĩ quan hải quân, những người khác, phần lớn, không được đào tạo gì cả, thậm chí vô học, nên không thể là kỹ sư, kiến trúc sư, xây dựng thành trì, tổ chức và điều khiển quân đội, như Trương Vĩnh Ký viết, mà như trên đã nói, ông chép lại cuốn Đức Giám mục Bá Đa Lộc của Alexis Faure, ra đời sáu năm trước cuốn Biên tích Đức thầy Vê Rô giúp đức Cao Hoàng phục nghiệp.
3-Sau khi qua đời, Đức Thầy tiếp tục giúp Nguyễn Ánh chinh phục phần đất còn lại: «Từ Đức Thầy tạ trần [9-9-1798?] rồi về sau cho đến năm Nhâm Tuất 1802, Vua nhờ tầu bè binh khí và binh lính tập rèn theo Tây và các quan Tây còn lại mà đánh lấy tới Huế ra Nghệ An Thanh Hoá, tức vị hoàng đế, lấy hiệu Gia Long năm đầu, rồi lần ra lấy đất Bắc mà cai trị tự Nam chí Bắc» (trang 43). Những dòng này cũng hoàn toàn tưởng tượng, nếu ta xem những trận chiến giữa Nguyển Ánh và nhà Tây Sơn được mô tả trong Đại Nam thực lục. Tóm lại, có thể coi cuốn Biên tích Đức thầy Vê Rô giúp đức Cao Hoàng phục nghiệp của Trương Vĩnh Ký là đầu mối việc trá mạo lịch sử trong sách tiếng Việt: viết theo lệnh của Giám mục Dépierre, Trương Vĩnh Ký chép lại những bịa đặt của Alexis Faure trong cuốn Monseigneur Pigneau de Béhaine, évêque d'Adran (Đức Giám mục Bá Đa Lộc), về những chuyện: Bá Đa Lộc bỏ tiền mua thuyền tầu súng đạn đem về giúp Nguyễn Ánh, và sĩ quan Pháp xây thành Gia Định, thiết lập quân đội hai ngành thủy bộ cho nhà vua. Sau khi Giám mục qua đời, Nguyễn Ánh vẫn «nhờ ơn» đức Giám mục (nhờ tầu bè, khí giới của Pháp và binh lính được tập luyện theo lối Tây) nên mới lấy được Huế và đánh ra Bắc! Những dòng này sẽ ngự trị trên sách lịch sử Pháp, Việt, trong nhiều thập kỷ.
Bộ sách Cours d'Histoire Annamite (Giáo trình Lịch sử An nam)
Truyện Bá Đa Lộc trong cuốn Biên tích Đức thầy Vê Rô giúp đức Cao Hoàng phục nghiệp chỉ là truyện nhỏ. Vấn đề lớn hơn, bao trùm cả triều đại nhà Nguyễn, là việc nước Pháp xâm lăng, được dựng lại trong bộ sử Cours d'Histoire Annamite (Giáo trình Lịch sử An nam) của Trương Vĩnh Ký, để dạy học trò Nam kỳ, từ năm 1875, thực ra là để gửi đến mọi tầng lớp độc giả Pháp, Việt. Bộ sử này có tên đầy đủ là Cours d'Histoire Annamite, à l'usage des écoles de la Basse-Cochinchine (Giáo trình Lịch sử An-Nam, để dùng trong các trường học ở Nam Kỳ) của P.J.B.Trương Vĩnh Ký, được viết trong bối cảnh miền Nam đã rơi vào tay Pháp, và ông vừa được chính phủ thuộc địa trao cho nhiệm vụ giáo dục học trò Nam kỳ. Tác phẩm do Imprimerie du Gouvernement (Nhà in của Chính phủ) xuất bản. Sách chia làm hai tập: Quyển 1, từ năm 2874, trước Công nguyên, đến năm 1428 sau Công nguyên, tức là từ thời Hồng Bàng đến khi Lê Lợi chiến thắng quân Minh, lập ra nhà hậu Lê (184 trang), in năm 1875, tại Sài Gòn. Quyển 2, từ năm 1428 đến năm 1875, tức là từ đời Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đến cuối đời Tự Đức, Pháp đã chiếm xong Nam Kỳ. (278 trang), bìa ngoài đề in 1879. Bìa trong đề: Saigon, 1877. Tổng cộng hai tập 462 trang, từ thời Hồng Bàng đến thời Tự Đức. Phần viết từ thời Hồng Bàng đến hết nhà Lê (từ năm 2878 trước Công nguyên đến năm 1497 sau Công nguyên) soạn theo chính sử: Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt sử ký toàn thư... Tóm lược những ý chính và đưa những huyền thoại được công chúng ưa chuộng như truyện Mỵ Châu Trọng Thủy, truyện Huyền Trân công chúa... không có gì đáng nói. Vì người Việt có thể đọc thẳng Đại Việt sử ký toàn thư, và người Pháp thường không chú ý đến lịch sử Việt Nam (từ thời cổ đại trải qua các triều Lý, Trần, Lê) quá phức tạp đối với họ, họ không thể phân biệt những tên Việt xuất hiện trong sử sách «Annam». Phần quan trọng trong bộ sử của Trương Vĩnh Ký, đối với người Pháp là giai đoạn họ có mặt ở nước ta, bởi vì có họ ở trong, và họ sẽ trở thành vai chính, thúc đẩy sự thay đổi toàn diện của đất nước này. Đó là phần viết về nhà Nguyễn, trong quyển 2, kể từ trang 112, đến trang cuối 278. Phần này, có nhiều điểm cần phải xem lại, có nhiều vấn đề vượt quá giới hạn của một sử gia: Trương Vĩnh Ký «kể công» và «định tội» triều Nguyễn, tố cáo mà không chứng minh những «tội ác» của Gia Long, nhất là Minh Mạng «tham tàn bạo ngược», tàn sát đạo Chúa, rồi Tự Đức nối gót, đưa dân tộc đến tình trạng suy đồi, khiến người Pháp phải can thiệp để «dìu dắt» dân ta khỏi cảnh lầm than. Ảnh hưởng những «trang sử» này ra sao? Maybon đã dùng cuốn sách này làm mẫu về giai đoạn Pháp thuộc, trong cuốn Histoire moderne du pays d'Annam (1920) Và Jean Bouchot, đã hết sức ca tụng bộ sách lịch sử này, trong cuốn Un savant et un patriote cochinchinois Petrus J.B. Trương Vĩnh Ký (1837-1898) (1927) là điều dễ hiểu. Nhưng sự tôn vinh của người Việt, thì không thể hiểu được. - Học giả Nguyễn Văn Tố, năm 1937, một trong những người đầu tiên ca tụng cuốn sách này trong bài viết tiếng Pháp tựa đề Petrus Ký (1837-1898)[16], nội dung tôn vinh toàn bộ sự nghiệp văn học của Trương Vĩnh Ký, và có một phần dành cho bộ sử Cours d'Histoire Annamite. Vị học giả này chỉ chú ý đến phần viết từ đời Hồng Bàng đến nhà Lê (vô tình hay cố ý lờ đi phần viết về nhà Nguyễn) để xác nhận rằng «Đấy là lao động khoa học trung thực và kiên trì Petrus Ký đã bắt đầu từ 1863», và đã «dấn thân vào con đường khó nhọc của tri thức uyên bác, chẳng hề đo tính thời gian của mình, suốt đời nhọc nhằn chỉ duy nhất chăm lo tìm cho được sự chuẩn xác, ngày nay [ông] được vinh danh một cách xứng đáng là người sáng lập nền nghiên cứu lịch sử và ngữ văn học An Nam». - Nguyễn Văn Trấn, một khuôn mặt trí thức nổi tiếng trong Nam, được mệnh danh là «ông già chợ Đệm», năm 1992, viết cuốn Trương Vĩnh Ký (con người và sự thật)[17] để minh oan cho Trương Vĩnh Ký, đặc biệt chiếu ống kính vào những đoạn Trương Vĩnh Ký kết tội vua Minh Mạng và nhà Nguyễn, để nói lên «ưu điểm» của cuốn sách này. Tựu trung, phần đông các tác giả Việt Nam, trước khi «nhận định» một việc gì liên quan đến lịch sử cận đại, thường tìm ra cho được ít nhất một cái ô dù vững chắc, tức là một tác giả Pháp đã nói như vậy, ta chỉ việc nghe theo. Trong trường hợp Trương Vĩnh Ký, cái ô dù mà các nhà biên khảo Việt đưa ra là những lời vàng ngọc của Ernest Renan (1823-1892), triết gia, nhà phê bình, nhà văn, Hàn Lâm viện sĩ... một trong những trí thức lớn của Pháp cuối thế kỷ XIX. Nguyễn Văn Trấn là trường hợp điển hình: Trước hết, ông giới thiệu với độc giả Việt Nam sự nghiệp lẫy lừng của Ernest Renan (chép lại từ điển Larousse), rồi ông đưa ra những lời khen của Ernest Renan như một sự bảo lãnh về giá trị của bộ sách Lịch sử nước An nam của Trương Vĩnh Ký, bằng những lời sau đây: «Trong báo cáo thường niên, đọc ngày 10-06-1880 ở hội Á Châu, E. Renan đã khen như vầy về người bạn An nam của mình, về quyển sách học Lịch sử nước An nam: «Ông Trương Vĩnh Ký trình bày với chúng ta một cách sáng sủa những tư tưởng mà người An nam đã có từ trong lịch sử của họ. Người ta ngạc nhiên mà thấy trong quyển sách nhỏ của ông một sự hiểu biết rõ ràng, một sự vô tư, không có một chút nào tánh chất Á Đông. Nhiều dân tộc châu Âu không có cho các trường sơ học của họ một quyển sử yếu hay bằng của ông Trương Vĩnh Ký»[18] Và sau cùng Nguyễn Văn Trấn mới nói lên những lời ca tụng cuốn Cours d'histoire annamite của riêng mình: «Sử gia Trương Vĩnh Ký viết trong sách dạy về Sử An nam của mình (Cours d'histoire annamite như vầy: «Bây giờ dưới mắt chúng ta có một cảnh tượng không làm chúng ta an lòng về những việc mà Gia Long và những người kế vị, những người chủ mới của Vương quốc đã làm. Sự ương ngạnh và mù quáng của họ đã làm mất xứ Nam kỳ, sự cai trị tồi tệ của họ đã làm cho Bắc kỳ mất lòng đối với họ[19]. Riêng đối với Nam Kỳ thì những tai nạn triền miên, sự khủng hoảng mà người dân phải chiụ đựng, sự bạo ngược và tham tàn của quan lại các cấp đã quá rõ, vậy nên nói lại là thừa»[20] Sau khi trích dẫn dài rộng những dòng Trương Vĩnh Ký «kể tội» nhà Nguyễn, Nguyễn Văn Trấn còn thêm vào câu: Đọc thấy có thương không, hỡi người độc giả chăm chỉ? (trang 50) Và sau cùng, ông kết luận: «Vừa rồi, sở dĩ để nghe Trương Vĩnh Ký nói nhiều «khảo sát» về việc tăm tối trong triều là để ngẫm nghĩ về khái niệm «tổ quốc» trong lòng mọi người dân thường (kể cả Petrus Ký) đã bị xúc phạm, đã bị xuyên tạc đến bực nào.» (trang 52) Điều mà Nguyễn Văn Trấn khâm phục ở đây chính là những dòng tố cáo nhà Nguyễn: Trương Vĩnh Ký đã vẽ nên một nhà nước Việt Nam thối tha, rữa nát, dưới sự cai trị của nhà Nguyễn, đặc biệt với ông vua độc tài tàn ác là Minh Mạng, Trương Vĩnh Ký mong nước Pháp lật đổ chế độ nhà Nguyễn [dưới thời Tự Đức] để «cứu giáo dân» và «giáo hóa quần chúng» theo kịp nền văn minh Tây phương. Ông đưa ra ba vấn đề then chốt: 1- Ca tụng công lao của Bá Đa Lộc đã bỏ tiền mua thuyền bè vũ khí giúp Nguyễn Ánh, mộ các "sĩ quan" Pháp đến giúp Nguyễn Ánh «thành lập quân đội», «xây dựng thành đài», đánh đuổi Tây Sơn, dựng nên cơ nghiệp nhà Nguyễn. 2- Quy tội làm mất nước cho nhà Nguyễn, bằng cách xuyên tạc Minh Mạng: soán ngôi, vô luân, tàn ác, giết đạo, khiến nước Pháp phải «can thiệp» vào nước Nam để cứu dân, cứu đạo. 3- Chào đón sự đô hộ của Pháp bằng cách gọi tên nước là An Nam, và ca tụng sự bảo hộ của nước Pháp.
Tại sao có sự căm thù nhà Nguyễn trong Giáo trình Lịch sử An-Nam? Văn bản xuyên tạc lịch sử Việt Nam sớm nhất mà chúng tôi tìm được là của những người Pháp đã đến nước ta, trong thế kỷ XVIII, chủ yếu là cuốn La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine de Mr de la Bissachère (Ký sự về Bắc hà và Nam hà của ông de la Bissachère)[21] trong đó có Bài Tựa (Introduction) của viên sỹ quan kỵ binh Félix Renouard de Sainte-Croix (1767-1840)[22] Cuốn Ký sự Bissachère, được de Sainte-Croix đem về Âu châu, in lần đầu năm 1810. Như vậy, sự bôi nhọ Quang Trung và Gia Long của Bissachère đã được truyền đi từ năm 1810. Năm 1817, Bissachère trở thành Giám đốc Hội Thừa Sai Paris.[23] Vua Minh Mạng lên ngôi năm 1820. Sự thù ghét Việt Nam mà de la Bissachère đã sống trốn tránh nhiều năm vì việc cấm đạo, được phản ảnh gay gắt trong Ký sự Bissachère, đã ảnh hưởng đến cách quản lý Hội Thừa Sai Paris của ông, và giải thích sự xuất hiện một tầng lớp giáo sĩ mới, nổi lên từ thời Minh Mạng đến thời Tự Đức, như Marchand (Cố Du), Giám mục Pellerin, linh mục Huc, linh mục Legrand de la Liraye, Giám mục Puginier, linh mục Louis Eugène Louvet,... không nề hà bất cứ thủ đoạn nào có thể «đánh đổ» Nhà Nguyễn, để xây dựng Đế quốc Thực dân Pháp là Đông Dương. Những thừa sai này, hoặc hướng dẫn tinh thần (giặc) Lê Văn Khôi, trên hiện trường như linh mục Marchand, dưới thời Minh Mạng; hoặc vạch ra chiến lược đánh chiếm thuộc địa dể kiếm ăn, như các linh mục Huc, Legrand de la Liraye, Pellegrin, Puginier; hoặc bôi nhọ triều đình, đổ tội cho các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, giết hại giáo dân như Louis-Eugène Louvet, để xác định chính nghiã xâm lăng. Và các giám mục hay giáo sĩ này, thường là những thám tử đắc lực của chính quyền thực dân, trực tiếp giúp đỡ các tổ chức nổi loạn trong nước, hỗ trợ cho việc đánh chiếm thuộc địa.[24] Những việc này sẽ được khảo sát sâu hơn trong chương viết về Tự Đức. Được đào tạo trong nhà Dòng từ nhỏ, Trương Vĩnh Ký không xa lạ gì với những lập luận của các thừa sai. Hẳn là ông đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của linh mục de la Bissachère: cùng một phương pháp, cùng một mục đích, Trương Vĩnh Ký trở thành cây bút người Việt đầu tiên viết sử bôi nhọ nhà Nguyễn, ngay sau khi Pháp chiếm xong miền Lục tỉnh Nam kỳ. Cho nên, cuốn sách giáo khoa này của ông được các nhà nghiên cứu Pháp như Maybon, Cadière, đánh giá cao và họ nói rõ: đó là cuốn sách đầu tiên, mà người Pháp được đọc về lịch sử Việt Nam. Lời khen của Ernest Renand đọc tại hội Á Châu ngày 10-06-1880, trích dẫn ở trên, hẳn không phải là khen phần viết từ đời Hồng Bàng đến nhà Lê, bởi lịch sử thăng trầm của dân tộc ta với những giai đoạn hiển vinh: ba lần đuổi quân Mông cổ, đánh Tống, bình Chiêm, không thể hấp dẫn người Pháp, vì họ không thể nhớ nổi tên một vị anh hùng, đầy rẫy trong sử Việt. Việc ta đánh đuổi ba lần quân Mông cổ, trong một bộ sử thế giới, được họ ghi là ta đã thần phục Hốt Tất Liệt! Cho nên ở đây phải hiểu: họ chỉ khen và hâm mộ những đoạn Trương Vĩnh Ký viết về thời kỳ cận đại, tức là thời kỳ có họ ở trong và Trương Vĩnh Ký đã buộc tội nhà Nguyễn làm mất nước và nêu cao công trạng của họ: đến để «khai hóa» và đưa dân tộc này ra khỏi cảnh đọa đầy! Công lớn của Trương Vĩnh Ký là đã lột áo «ngoại xâm» để đắp lên mình tập đoàn thực dân tấm áo «ân nhân» của nước Việt.
Quy tội mất nước cho nhà Nguyễn Mở đầu kỷ nguyên nhà Nguyễn, Trương Vĩnh Ký chào đón việc Gia Long ra Bắc, kết thúc chiến tranh, thu giang sơn thành một mối, với những hàng sau đây: "Ngày nay, chúng ta có dưới mắt bức tranh không vinh hiển, của vương triều mà tới nay, Gia Long và những người kế nghiệp, là chủ mới. Sự cố chấp mù quáng của họ đã làm mất Lục tỉnh-Nam Kỳ, việc cai trị tồi bại của họ đã làm mất lòng người Bắc; còn về nước Annam nói riêng, tiếp theo những bất hạnh, những bạo tàn thống trị toàn dân, những chuyên chế bạo ngược và gian tham của các quan lại trong mọi từng lớp mà ai cũng biết chẳng cần kể lại. Nếu người ta muốn nước Annam ở Huế, có một đời sống chính trị hữu ích, nếu triều Nguyễn muốn tồn tại, thì phải tìm kiếm một con đường và triệt để noi theo. Phần chúng tôi, là sử gia trung thành và cần mẫn, chúng tôi luôn luôn biết tôn trọng và trả lại công bằng cho quá khứ; chúng tôi không hề quên rằng: Người Việt ở Pháp, ở Nam kỳ hay Bắc kỳ, đều cùng chung một gốc. Mặc dù số mệnh chính trị phân chia, chúng tôi đồng lòng đứng lên chống lại hệ thống cai trị sai lầm này, nó trái ngược với chính sách kinh tế lành mạnh, nó đã làm cho dân tộc trở thành bầy súc vật của nhà vua, và nó chỉ là sự khai thác vụng về và tàn ác một đất nước, bởi tầng lớp tham quan vô lại. Thêm nữa, chúng tôi không nề hà mà thú nhận rằng: cách tổ chức chính trị tốt đẹp của những dân tộc Tây phương, đứng đầu là Pháp, đã quyến rũ chúng tôi, đã cuốn hút niềm tin của chúng tôi cùng sự kính trọng và lòng tận tụy trung thành của chúng tôi, như nó đã từng chinh phục thiện cảm của những dân tộc, mà nước Pháp đã sát nhập vào đế quốc của họ, kinh ngạc vì thấy bao nhiêu tự do, bao nhiêu che chở, bao nhiêu an ninh, ở những người thầy, mà những dân tộc này đã đương nhiên coi là kẻ thù". Nguyên văn tiếng Pháp: "Nous avons aujourd'hui sous les yeux le tableau, peu consolant, de ce qu'ont su faire Gia Long et ses successeurs, jusqu'à présent, les nouveaux maîtres du domaine royal. Leur obstination aveugle leur a fait perdre la Basse-Cochinchine, leur mauvaise administration leur a aliéné les cœurs du Tonquin [sic]; quant à la Cochinchine proprement dite, la suite de ses malheurs, la terreur par laquelle les populations sont dominées, la tyrannie et l'improbité des fonctionnaires de tous rangs sont assez connues, pour qu'il soit superflu d'en faire l'histoire. Si on veut à Huê que l'Annam vive de la vie politique des peuples utiles, si la dynastie de Nguyễn veut durer, il faut qu'elle cherche sa voie et qu'elle la suive résolument. Quant à nous, historien fidèle et consciencieux, nous saurons toujours respecter le passé et lui rendre hommage et justice; nous n' oublierons point qu'Annamites de la France; ou Annamites de la Cochinchine et du Tonquin, nous avons des origines communes. Bien que séparés par les destinées politiques, nous nous élèverons de toutes nos forces contre ce système erroné d'administration, contraire à la saine économie politique, qui fait du peuple le bétails des rois; qui n'est que l'exploitation maladroite et criminelle d'une nation par la caste des fonctionnaires avides et ambitieux. Tandis, nous n'hésitons pas à l'avouer, que la belle organisation politique des peuples de l'Occident, et du peuple français en première ligne, a séduit notre esprit, a conquis notre estime, notre respect et notre dévouement, comme elle a su gagner la sympathie des populations que la France a annexées à son empire, étonnées de trouver tant de liberté, tant de protections, tant de sécurité chez des maîtres qu'elle avait logiquement considérés comme des ennemies."[25] Tự xưng mình là «sử gia trung thành và cần mẫn» để viết những dòng trên đây, mở đầu sự buộc tội « làm mất nước của nhà Nguyễn» và «công ơn khai hóa» của nước Pháp đối với dân tộc ta. Trương Vĩnh Ký chỉ trích nặng nề nhà Nguyễn, nhưng ông chỉ viết suông, không đưa ra tài liệu thực chứng nào. Theo ông, từ Gia Long trở đi, là một chế độ tồi tàn, quan lại tham nhũng, tàn ác, mà "toàn dân" đồng lòng muốn đứng lên lật đổ. Ông khâm phục chính sách cai trị «tự do, bao dung» của chính quyền thực dân mà ông đang phụng sự. Ông chỉ trích các quan và nhà nho: «họ chống Pháp vì lòng ghen tuông căm thù. Họ hết sức cố gắng kéo Gia Long ra khỏi ảnh hưởng của Pháp».[26] Những "trang sử" kết tội một chiều như thế, không còn là tác phẩm của một sử gia nữa, mà là ngòi bút vinh thăng nước Pháp, coi sự xâm lăng là «đại phúc» cho các dân tộc được Pháp cưỡng chiếm. Tệ hơn, Trương Vĩnh Ký không chỉ nhân danh riêng mình và dân tộc mình để tôn sùng thực dân, mà ông còn nhân danh cả các dân tộc khác đã "được" Pháp thôn tính, đều một lòng biết ơn nước Pháp. Ông chân thành viết nên những điều đó để dạy học trò Việt Nam. Đặc biệt ngòi bút của ông chiếu vào Minh Mạng như kẻ thù số một, với tất cả "tội ác" có thể mường tượng được: Lên ngôi không chính thức, hủ hoá với chị dâu (vợ góa Hoàng tử Cảnh) đến khi có mang, ra lệnh giết bà cùng với hai cháu. Sát hại công thần của cha: giết Nguyễn Văn Thành. Bạc đãi Lê Văn Duyệt. Đối xử tệ bạc với các "ân nhân" người Pháp, đã giúp vua Gia Long "lấy lại cơ đồ". Không tiếp sứ giả Pháp. Đàn áp đạo Chúa, bắt các giáo sĩ về kinh dịch sách, rồi đầy họ lên vùng nước độc cho chết dần, vv... Ở đây, chúng tôi làm hai việc: - Trình bày lại những lập luận chính của Trương Vĩnh Ký, trong việc xuyên tạc vua Minh Mạng và xưng tụng công lao của người Pháp. - Tìm hiểu: bằng cách nào? Trương Vĩnh Ký đã tiên phong dẫn dắt các học giả, sử gia Pháp như Maybon, Cadière, thiết lập một lịch sử giả, với các tài liệu giả, để chứng tỏ người Pháp «có công đầu» trong việc giúp Nguyễn Ánh thành lập quân đội, xây dựng thành trì, và chiến thắng Tây Sơn. - Những văn bản lịch sử giả này được quảng bá và lưu truyền từ cuối thế kỷ XIX trong các tác phẩm sử địa của Trương Vĩnh Ký; được sử gia thực dân chép lại, và sử gia người Việt viết theo, với hai mục đích chính: 1-Tố cáo nhà Nguyễn từ thời Minh Mạng đã làm mất nước với các chính sách: cấm đạo, bế quan tỏa cảng, cai trị bạo tàn. 2- Vinh thăng công ơn người Pháp, đến để cứu dân, cứu đạo, và khai hóa dân tộc ta. Đã âm thầm được người Việt chấp nhận, vì không ai phản bác, và trở thành «sự thực lịch sử».
Vua Minh Mạng dưới ngòi bút Trương Vĩnh Ký Để độc giả thấy rõ cách viết lịch sử của Trương Vĩnh Ký, chúng tôi xin trích đoạn văn tiêu biểu trong cuốn Cours d'Histoire Annamite (Giáo trình lịch sử An Nam) viết về vua Minh Mạng, và dịch sang tiếng Việt dưới đây: «Thực thế, Minh Mạng lên làm vua, tiếm ngôi của con trai Hoàng tử Cảnh, lo ngại một ngày sẽ có người trong chính gia đình tranh ngôi với mình, trong khi ở ngoài Bắc, con cháu nhà Lê bắt đầu được những người bất mãn ủng hộ. Người anh Cảnh [thái tử Cảnh] chết đi để lại hai con trai, sự tàn mạt của chúng đã định trước. Nghe nói, Minh Mạng, tư thông với người vợ góa của anh mình, bà này có thai, khi tình trạng lộ rõ, bị ông ta buộc cho tội loạn luân và kết án tử hình, cùng với hai con trai, là cháu ruột của ông ta. Tuy có cho hưởng ân huệ được chọn cách chết. Sau tội ác vô liêm sỉ và đạo đức giả đen tối nhất pha trộn với lòng hiểm ác thâm độc tranh nhau diễn đàn vinh hiển như thế, ta có cần phải ngạc nhiên trước thái độ của nhà vua đối với các sĩ quan Pháp và các vị thừa sai? Không, dĩ nhiên là không. Minh Mạng, bản chất độc ác, lạnh lùng, đen tối và gian trá, từ nay có thể làm tất cả, mà tin chắc là không bao giờ quá đáng. Sau khi loại trừ được hai địch thủ chính thức [hai con của thái tử Cảnh], ông ta nghĩ đến việc tiêu diệt hai lão tướng hiển vinh, quan đầu triều, có ảnh hưởng lớn, là bạn đồng hành và chiến thắng của cha, mà uy quyền của họ gây trở ngại cho ông ta trong những thủ đoạn nham hiểm và độc ác: Chưởng Trung quân, Nguyễn Văn Thiềng [Thành], Tổng trấn Bắc thành và đại hoạn quan [Chưởng Tả quân] Lê Văn Duyệt, ông này quý trọng người Pháp mà sự có mặt ở Huế gây thiệt hại cho sự lèo lái những mưu mô ghê tởm của ông ta. Tới đây, còn hiện ra mưu mẹo khốn nạn là đáy sâu bản chất đồi bại của nhà vua: Minh Mạng quyết định gán tội phản loạn cho họ, bằng cách mua chuộc hai viên thư ký giữ triện của hai người này, khiến chúng làm đồng loã với vua, sai chúng học viết giống như chữ cuả chủ và chữ con trai chủ. Ít lâu sau, người ta dùng cạm bẫy bắt được một lá thư giả mạo, đưa lên Minh Mạng. Lá thư này kêu gọi nổi loạn, viết chữ con trai kinh lược Bắc Hà, dưới đóng triện của Kinh lược Thiềng. Thiềng, lập tức bị gọi từ Bắc về triều, không thể chối cãi dấu triện của chính mình và chữ của con mình. Chứng cớ rành rành. Không cần đếm xỉa đến những lời giải thích, biện hộ, không cần đếm xỉa đến quá khứ oanh liệt của Thiềng, Minh Mạng xử tử. Thiềng và con trai nhận lệnh phải chết. Lê Văn Duyệt dự buổi xử của nhà vua; Thiềng bị kết án trước mắt ông. Duyệt biết rõ Minh Mạng; hiểu ngay bạn mình là nạn nhân sự tráo trở của nhà vua và đoán ra âm mưu ghê tởm mà ông ta đã bị rơi vào; lòng oán hận đột nhiên nổi dậy, ông rời triều về tìm cái triện của mình có còn nguyên chỗ cũ hay không. Không thấy. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Ông tức khắc sai tìm người gác triện, thấy y đứng như bất tỉnh, dáng diệu lơ láo, bên giếng, y được dẫn tới trước mặt ông, và bị lục soát. Thấy ngay cái triện và một bức thư giả, chưa gửi. Thống chế [Lê Văn Duyệt] sai chặt đầu y tức khắc. Sau đó, ông tìm gặp Minh Mạng, nói rằng miền Lục tỉnh đang có băng đảng hoành hành, ông phải về để dẹp trước khi nổ lớn. Minh Mạng không dám giữ; mà còn sung sướng thấy ông tự ý rời xa. Lê Văn Duyệt về Sài Gòn với chức Kinh Lược Sứ." [27] Nguyên văn tiếng Pháp: «Minh Mạng, en effet, monté sur le trône au détriment du fils du prince Cảnh, redoutait de voir un jour ou l'autre quelque compétiteur surgir au sein même de sa famille, tandis que, dans le Tonkin, les descendants des Lê commencaient à bénéficier du mécontentement général. Son frère Cảnh était mort, laissant deux fils; leur perte fut résolue. Minh Mạng, dit-on, eut des relations avec la veuve de son frère et la rendit enceinte. Quand la grossesse fut apparente, il l'a condamné à mort pour inceste, elle et ses deux fils, ses propres neuveux. Il leur accorda cependant la faveur du choix du genre de mort.[28] Faut-il après un pareil crime, où le cynisme et l'hypocrisie la plus noire, se mêlant à la plus profonde scélératesse semblaient se disputer la palme, s'étonner de sa conduite envers les officiers francais et les missionnaires? Non, évidemment. Minh Mạng, nature méchante, froide, sombre et fausse, pouvait désormais tout entreprendre, s^ur de ne jamais aller au-delà. Débarrassé des rivaux légitimes. Il songea à la perte de deux glorieux vétérans, ministres autorisés et influents, vieux compagnons d'armes et de victoires de son père, dont l'action pépondérante le gênait dans l'accomplissement de ses plans tortueux et criminels: le maréchal du centre, Nguyễn Văn Thiềng [Thành], vice roi du Tonkin, et le grand énuque Lê Văn Duyệt, qui estimait les Français et dont la présence à Huế nuisait à la conduite de ses odieuses combinaisons. Ici encore apparaît cette misérable astuce qui est le fond de sa nature perverse: Minh Mạng se propose de les convaincre de rébellion; il gagne leurs secrétaires et garde-sceaux. Ces misérables, unis à leur royal complice, s'appliquent à imiter l'écriture de leurs maitres et celle de leur fils. Bientôt, une fausse lettre, interceptée dans un guet-apens arrêté en commun, fut portée à Minh Mạng. Elle faisait un appel aux armes; elle était de l'écriture du fils du vice-roi du Tonquin; elle portait le sceau du vice-roi Thiềng lui même. Thiềng, rappelé immédiatement du Tonquin, ne put méconnaître son sceau, ni l'écriture de son fils. La preuve était éclatante, écrasante; et sans égard pour ses explications et sa défense, sans égard à son glorieux passé, Minh-Mạng le condamna à mourir. Thiềng et son fils reçurent l'ordre de se donner la mort. Lê văn Duyệt était à l'audience du roi; Thiềng fut condamné sous ses yeux. Duyệt connaissait Minh-Mạng; il comprit que son vieil ami était victime de la duplicité du roi et devina la machination infernale sous laquelle il succombait; et comme mu par un pressentiment soudain, il quitta le palais pour aller voir si le sceau était à sa place habituelle. Il ne l'y trouva plus; sa conviction fut faite immédiatement. Il fit rechercher sans délai son garde-sceau qu'on trouva comme étourdi, dans une attitude égarée, au bord d'un puits. il fut conduit devant son maitre et fouillé. On trouva sur lui le cachet du maréchal Duyệt et une fausse letrre non encore timbrée. Le maréchal le fit décapiter sur l'heure. Il alla ensuite trouver Minh-mạng, lui dit que la Basse-Cochinchine était victime d'exactions de chefs de bandes, et que sa présences sur les lieux mettrait un terme à ces désordres qui menaçaient de s'aggraver. Minh-mạng n'osant pas le retenir; et heureux d'ailleurs de cet éloignement volontaire, le laisa partir. Lê văn Duyệt, donc, vint à Saigon comme vice-roi".[29]
Trước những lời buộc tội chắc nịch này, người đọc có hai giải pháp: hoặc chấp nhận đó là sự thực, hoặc phản bác bằng một sự thực khác. Chúng tôi lựa giải pháp thứ nhì: Thử xem biên niên sử Việt Nam viết gì?
Đại Nam chính biên liệt truyện Cuốn Cours d'Histoire Annamite (Giáo trình lịch sử Annam) được in ra trong khoảng 1875- 1877 (hay 1879), lúc đó bộ Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập (từ quyển 1 đến quyển 32), ghi rõ chân dung của ba nhân vật: Thái tử Cảnh, Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt, chưa được công bố, mãi đến năm 1889, mới khắc in. Bài tựa Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, viết rất rõ về quá trình soạn sách và in sách, như sau: «Bọn thần phụng chỉ tra cứu suốt từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đặt ra sử quán, chọn sai nho thần biên chép lâu năm. Đến buổi đầu năm Thiệu Trị kính vâng sắc chỉ chuẩn cho sửa làm liệt truyện, để đủ làm quan chiêm của một triều đại và để bảo rõ điển chương đến muôn đời sau. Tới năm Tự Đức thứ 5 (1852) bộ «Tiền biên liệt truyện» làm xong; phụng chỉ kế tiếp làm bộ «Đệ nhất kỷ chính biên liệt truyện», các viên ở sử quán lúc ấy, tham bổ, khảo xét đính chính, chia ra từng mục, biên thành từng loại. Đầu là các truyện của Hậu phi, thứ là Hoàng tử, công chúa, thứ nữa là các bề tôi [... ] nhan đề là «Chính biên liệt truyện sơ tập». Trong đó tìm lấy nguyên nhân từ trước, cốt yếu về sau, việc xét đúng, văn rõ ràng, thực đáng làm gương để khảo xét, nhân lúc nhiều việc, chưa kỉp đem khắc ra ban hành, bản thảo vẩn để ở Lan Đài (tức là sử quán), không ai được thấy sự bí mật của bộ sách ấy». [...] Kính cẩn tâu lên Thành Thái năm thứ 1 (1889) tháng 10 ngày 13 đệ tâu (ngày 5 tháng 11 năm 1889). Vâng chỉ chuẩn y lời tâu, phải kính theo lời chỉ. (Thần) Nguyễn Trong Hợp, Bùi Ân Niên... [30] Như vậy, các bộ Đại Nam liệt truyện đã bắt đầu soạn từ năm Minh Mạng thứ 2 (1821) khi vua Minh Mạng đặt ra sử quán, đến năm Tự Đức thứ 5 (1852) bộ Liệt truyện tiền biên [các đời chúa] làm xong và được lệnh làm tiếp Liệt truyện chính biên [từ thời Gia Long trở đi]. Khi soạn xong, để trong sử quán, không ai được thấy. Đến năm Thành Thái thứ 1 (1889), mới dâng vua xin in. Tóm lại, ta có thể chắc chắn rằng vua Minh Mạng không đọc, nên không thể có một sự «kiểm duyệt» nào đó (nếu ông muốn) đối với các chi tiết trong hai bộ sách Đại Nam thực lục (bắt đầu in dưới thời Tự Đức) và Đại Nam liệt truyện (bắt đầu in dưới thời Thành Thái). Điểm này khiến ta có thể tin tưởng vào sự xác thực của những sự việc được ghi lại dưới thời Minh Mạng in trong Đại Nam thực lục và Đại Nam liệt truyện. So sánh những sự kiện được trình bày trong Giáo trình lịch sử Annam và Đại Nam liệt truyện, sự xuyên tạc và bôi nhọ Minh Mạng của Trương Vĩnh Ký lộ rõ sắc thái không thể chối cãi được. Xin nêu ra những điểm chính dưới đây: Việc lập hoàng tử Đởm (Minh Mạng sau này) làm Thái tử, theo Trương Vĩnh Ký, gặp sự phản đối của hai quan đại thần: Nguyễn Văn Thiềng [Thành] và Lê Văn Duyệt, cho nên hai người này bị Minh Mạng thù. Việc này, Đại Nam thực lục viết như sau (tóm tắt): Tháng 1-1816, vua Gia Long quyết định lập Hoàng thái tử: "Vua đã tuổi cao mà chưa định người nối ngôi, hoàng tử thứ tư [Đởm] hiền và lớn hơn cả [25 tuổi]. Vua đã để ý. Bầy tôi đều có lòng theo". Trừ Nguyễn Văn Thành, muốn cử người trẻ hơn, để cho dễ bảo[31], đòi lập người khác, nhưng Gia Long lờ đi, không nghe[32]. Ngày canh dần, tháng ba, năm Bính Tý [7-4-1816] Gia Long triệu Thượng thư bộ Lại Trịnh Hoài Đức đến bên giường, sai viết chiếu lập hoàng tử Hiệu [tức Đởm] làm Hoàng thái tử rồi đưa cho quần thần xem và bảo: "Ai đồng ý thì ký tên vào". Mọi người cùng tâu: "Bọn thần xin noi theo mệnh lệnh"[33]. Trương Vĩnh Ký viết lại chuyện này như sau: "Hai ông già nổi tiếng, bạn đồng hành của Gia Long, là Chưởng Trung quân Nguyễn Văn Thiềng [Thành] và Chưởng Tả quân, Lê Văn Duyệt muốn Gia Long đổi ý, phản bác rằng: Theo luật tự nhiên và theo định chế nhà nước, người nối dõi phải chọn trong ngành trưởng, con của hoàng hậu chính thức (l'héritier devrait être choisi dans la branche ainée des fils de la reine légitime) và đòi dựng con trai của Hoàng tử Cảnh..."[34], nhưng Gia Long không nghe. Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt không thể nói một câu như thế, vì họ biết rõ truyền thống nhà Nguyễn: Không có Hoàng hậu chính thức, chỉ có các bà Phi. Trong Đại Nam liệt truyện tiền biên, không có mục Hoàng hậu liệt truyện mà chỉ có mục Hậu phi liệt truyện. Và trong Đại Nam liệt truyện, các Hoàng tử, Công chúa con các bà phi, được ghi tên theo thứ tự sinh ra, đề tên mẹ bên cạnh, chứ không phân biệt con chính thức hay không chính thức.[35] Tóm lại, triều Nguyễn không có Hoàng hậu, đến đời Bảo Đại, Nam Phương được phong làm Hoàng hậu, vì bà đòi hỏi điều kiện này trước khi kết hôn. Về bà phi, mẹ hoàng tử Cảnh, Đại Nam thực lục ghi như sau: "Tháng 3, ngày Tân tỵ , hoàng tử cả Cảnh (tức là Anh Duệ hoàng thái tử) sinh, do nguyên phi Tống thị (tức là Thừa thiên Cao hoàng hậu); phi là con gái ngoại tả chưởng dinh Tống Phước Khuông [...] Khi Duệ Tông [Nguyễn Phước Thuần] vào Nam, phi theo Phước Khuông vào Gia Định. Năm Mậu Tuất, vua sửa lễ cưới, tấn phong làm nguyên phi".[36] Trương Vĩnh Ký khi viết những dòng trên đây, không thể không biết đến truyền thống này của nhà Nguyễn, nhưng ông đặt ra câu chuyện Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt dựa vào "định chế nhà nước" bắt bẻ vua Gia Long. Sự biạ đạt này chỉ để củng cố lập luận: Minh Mạng không phải là con chính thức, mà là kẻ tiếm ngôi của cháu. Việc này, tuy không quan trọng lắm, nhưng dẫn đến sự bịa đặt thứ hai.
Minh Mạng hủ hoá với chị dâu và giết cháu «Tội trạng» này được Trương Vĩnh Ký đúc kết trong một câu ngắn gọn: «Nghe nói, Minh Mạng, thông dâm với người vợ goá của anh, bà này có mang, khi thấy rõ, bèn bị kết án tử hình vì tội loạn luân cùng với hai con.» Đây là một vụ án quan trọng và nhức nhối của triều Nguyễn, kéo dài nhiều năm, từ đời Minh Mạng sang đời Tự Đức, được ghi lại khá chi tiết trong hai bộ Đại Nam liệt truyện và Đại Nam thực lục. Đại Nam Liệt truyện, đoạn ghi truyện thái tử Cảnh khá dài, (trang 52- 58). Chúng tôi tóm tắt một số dữ kiện chính sau đây: «Năm Tân Dậu (1801) mùa xuân, ông [thái tử Cảnh] bị bệnh đậu chết, tuổi 22. […] Vợ là Tống Thị Quyên có hai trai là Mỹ Đường (lại tên là Đán) và Mỹ Thùy (lại tên là Cảnh)[37]. Năm Gia Long thứ 16 phong Mỹ Đường làm Ứng hòa công, Mỹ Thùy làm Thái Bình công, tước trật lương bổng hàng năm và thưởng cho cũng như Hoàng Tử công. […] Năm Minh Mạng thứ năm (1824), Mỹ Đường bị người mật tố cáo là tư dâm với mẹ họ Tống. Tống thị phải tội dìm xuống nước cho chết [Đại Nam thực lục ghi rõ hơn: người phát giác là Lê Văn Duyệt, và vua sai Lê Văn Duyệt xử tử Tống thị]; Mỹ Đường phải dâng nộp ấn và giây thao [không rõ là gì?], giáng xuống làm thứ nhân; con trai con gái biên phụ vào sau sổ họ Tôn thất. Năm thứ bẩy [1826], Mỹ Thùy bị quân lính ở Dực Chấn kiện, sắp giao xuống cho đình thần nghị tội thì Mỹ Thùy bị bệnh chết, không có con, nên lấy con của thứ nhân (Mỹ Đường) là Lệ Chung tập phong là Ứng hoà hầu, phụng thờ Anh Duệ Hoàng thái tử [Thái tử Cảnh], năm thứ 8 [1827] đổi phong làm Thái Bình hầu»[38] Vụ án kéo dài nhiều năm, từ đời Minh Mạng thứ năm (1824) sang đời Tự Đức. Hoàng gia và Triều đình (Tôn nhân phủ và Bộ Lễ) hội họp nhiều lần để giải quyết. Lệ Chung, con cả của Mỹ Đường được phong làm Thái Bình hầu từ năm Minh Mạng thứ 8 (1827) để thờ phụng Thái tử Cảnh, rồi đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), con cái của Mỹ Đường được ghi tên vào gia phả trở lại, nhưng đến năm Minh Mạng thứ 17 (1837) lại bị tước bỏ tên đi... Năm Tự Đức thứ hai (1849) Mỹ Đường bị bệnh qua đời.[39] Trong một nước trọng đạo thánh hiền, việc loạn luân mẹ con là tội rất nặng. Những quyết định và phủ định trong «vụ án» này chứng tỏ những khó khăn, nghịch cảnh, mà người phạm tội là cháu vua, con của vị thái tử đã qua đời, khiến triều đình và hoàng gia không thể dứt khoát trong việc định tội. Chỉ cần đọc câu: «Năm [Minh Mạng] thứ 17, mùa đông, Phủ tôn nhân lại hội đồng với bộ Lễ tâu nói: thứ nhân là Mỹ Đường tội ác nặng lắm, con trai, con gái [của Mỹ Đường] há nên còn để ở tôn phả; duy Lệ Chung [con cả của Mỹ Đường] đã được tập phong để giữ việc thờ tự về dòng Anh Duệ [Thái tử Cảnh] xin cho miễn nghị, còn con trai Lệ Chung là Lệ Ngân, con gái là Thị Văn, Thị Dao đều giáng làm thứ dân, tước bỏ tên ở sổ họ Tôn thất. Vua theo lời tâu. Năm [Minh Mạng] thứ 20 (1839) đổi phong [cho Lệ Chung làm] Cảm hoá hầu Thái tử bình công, sau sai giữ việc thờ tự Anh Duệ Hoàng thái tử» (Đại Nam liệt truyện, tập 2, trang 53-54). Đến đời Tự Đức, các cháu của Mỹ Đường lại được Đông các Đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn, xin đình thần xét lại, «ban ơn» cho được có tên trong gia phả trở lại. Năm Tự Đức thứ 2 (1849) Mỹ Đường qua đời, Tạ Quang Cự và 30 đình thần, tiếp nối Vũ Xuân Cẩn, ký đơn xin ân xá, Tự Đức đọc lại hồ sơ hai ba lần, cuối cùng chấp thuận.[40] Viết về một cái án cực kỳ phức tạp như vậy, mà Trương Vĩnh Ký chỉ phán có một câu ngắn gọn: «Nghe nói, Minh Mạng, thông dâm với người vợ goá của anh, bà này có mang, khi thấy rõ, bèn bị kết án tử hình vì tội loạn luân cùng với hai con.» Không một sử gia nào trình bày một sự kiện lịch sử bằng hai chữ «nghe nói». Chính hai chữ nghe nói đã gạch hai chữ sử gia từng được gắn bó với tên Trương Vĩnh Ký, để đưa ông vào danh sách những người viết chuyện tầm phào.
Minh Mạng giết hại công thần Dường như thấy những «tội» ấy chưa đủ ác, Trương Vĩnh Ký thêm vào các tội tầy trời khác: Minh Mạng giết cha con Nguyễn Văn Thành và giết hụt Lê Văn Duyệt. Xin nhắc lại những lời Trương Vĩnh Ký, đã trích dẫn ở trên: "Sau khi đã loại trừ được hai địch thủ chính thức [Mỹ Đường và Mỹ Thuỳ] ông ta [Minh Mạng] nghĩ đến việc loại trừ hai lão tướng vinh hiển, quan đầu triều, có ảnh hưởng lớn, là bạn đồng đồng hành và chiến thắng của cha, mà uy quyền của họ gây trở ngại cho ông trong những thủ đoạn nham hiểm và độc ác." Và để chứng minh điều này, Trương Vĩnh Ký kể lại câu chuyện sau đây: "Ở đây, còn hiện ra mưu mẹo khốn nạn là đáy sâu bản chất đồi bại của ông ta: Minh Mạng quyết định gán tội phản loạn cho họ, bằng cách mua chuộc hai viên thư ký giữ triện của hai người này, làm đồng loã với vua, sai chúng học viết giống như chữ chủ và chữ con trai chủ. Ít lâu sau, người ta dùng cạm bẫy, bắt được một lá thư giả mạo, đưa lên Minh Mạng. Lá thư này kêu gọi nổi loạn, viết chữ con trai kinh lược Bắc Hà, dưới đóng triện của kinh lược Thiềng. Thiềng, lập tức bị gọi từ Bắc về triều, không thể chối cãi dấu triện của chính mình và chữ con trai. Chứng cớ rành rành. Không cần đếm xỉa đến những lời giải thích, biện hộ, không cần đếm xỉa đến quá khứ oanh liệt của Thiềng, Minh Mạng xử tử. Thiềng và con trai nhận lệnh phải chết. Lê Văn Duyệt dự buổi xử của nhà vua; Thiềng bị kết án trước mắt ông. Duyệt biết rõ Minh Mạng; hiểu ngay bạn mình là nạn nhân sự tráo trở của nhà vua và đoán ra âm mưu ghê tởm mà ông ta đã bị rơi vào; lòng oán hận đột nhiên nổi dậy, ông rời triều về tìm xem cái triện của mình có còn nguyên chỗ cũ hay không. Không thấy. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Ông sai tìm người gác triện, thấy y đứng như bất tỉnh, dáng diệu lơ láo, bên giếng, y được dẫn tới trước mặt ông, và bị lục soát. Thấy ngay cái triện và một bức thư giả, chưa gửi. Thống chế [Duyệt] sai chặt đầu y tức khắc. Sau đó, ông tìm gặp Minh Mạng, nói rằng miền Lục tỉnh đang có băng đảng hoành hành, ông phải về để dẹp trước khi nổ lớn. Minh Mạng không dám giữ; mà còn sung sướng thấy ông tự ý rời xa. Lê văn Duyệt về Sài Gòn với chức Kinh Lược Sứ." Câu chuyện cực kỳ hấp dẫn, chỉ hiềm Nguyễn Văn Thành đã chết từ năm 1817 dưới thời Gia Long rồi, còn đâu để Minh Mạng xử tử lần thứ hai? Bi kịch của cha con Nguyễn Văn Thành trải dài trong ba năm, từ năm Gia Long thứ 14 [1815] đến năm Gia Long thứ 17 [1818], được ghi trong Đại Nam thực lục, như sau: «Vua [Gia Long]tuổi đã cao mà chưa định người nối ngôi. Hoàng tử thứ tư [Minh Mạng sau này] hiền và lớn hơn cả, vua đã để ý. Bày tôi đều có lòng theo. Riêng một Nguyễn Văn Thành là người ngạo mạn kiêu căng, muốn được vua nhỏ tuổi, không thích vua lớn tuổi. Một hôm mời các quan uống rượu ở nhà, nói lên rằng: «Hoàng tôn Đán [con trai Thái tử Cảnh] nối ngôi, tôi sắp tâu xin lập đấy». Trong đám ngồi không ai dám nói gì, Trịnh Hoài Đức sợ họa lây mình, bèn nói rằng: «Việc lớn của nhà nước, quyết định do ở lòng vua, nếu người bầy tôi định kế riêng, tham lấy công to thì tội lại lớn». Văn Thành bèn thôi. Sau có người nói đến tai vua. Vua [Gia long] giận nói rằng: «Hắn muốn dựng vua nhỏ để dễ khống chế, ngày sau có thể chẹt họng vỗ lưng chăng. Ta há tối tăm nhầm lẫn, không biết đắn đo nên chăng, vội nghe lời hắn mà không vì Xã Tắc chọn người sao? Từ đó hễ cứ Văn Thành vào yết kiến là chỉ xin dựng thái tử. Vua nín lặng. Văn Thành tự biết không được thoả ý, càng thêm ngờ sợ. Con là Văn Thuyên nhòm biết ý cha, thầm mang lòng phản trắc, bèn giao thông khách khứa kết riêng bè đảng. Văn Thành cũng không ngăn cấm.» Văn Thuyên làm bài thơ có ý «phản kháng» lời rất «bội nghịch»[41]. Hình bộ Thượng thư Nguyễn Hữu Nghi cho rằng Văn Thuyên muốn nổi loạn. «Nghi sai Trương Hiệu đem thơ ấy cáo với Lê Văn Duyệt. Duyệt với Văn Thành vốn không ưa nhau, bèn đem thơ phản nghịch của Văn Thuyên dâng lên. Vua cho rằng sự trạng chưa được rõ rệt, hãy để đấy mà trả bài thơ ấy về.»[42] Việc dằng dai vì Vua Gia Long không nỡ kết tội. Năm sau (1816) Nguyễn Duy Hòa vào chầu, lại dâng sớ hạch Nguyễn Văn Thành. Tóm lại, việc Nguyễn Văn Thành được ghi rõ trong Đại Nam thực lục: ông là vị quan giữ "ngôi vị cao nhất trong hàng bầy tôi"; nhưng vì con trai làm bài thơ có tính cách "phản kháng", nên ông bị bắt giam vào nhà quân Thị trung. Bị triều thần đưa ra hạch tội, vua Gia Long không bênh vực, Nguyễn Văn Thành uất ức, uống thuốc độc tự tử, trong tháng 6-1817[43] Tại sao Trương Vĩnh Ký tráo đổi cái chết của Nguyễn Văn Thành đời Gia Long sang đời Minh Mạng? Hành động viết sử này, đến từ động lực nào? Nếu không phải là để thoả mãn đòi hỏi: cố tình tạo ra một Minh Mạng bạo tàn, vô ơn, vô luân... để dễ bề buộc tội.
Sự buộc tội Minh Mạng Sau khi đã đưa ra những tội ác tưởng tượng trên đây, Trương Vĩnh Ký có đủ bằng cớ để viết lời buộc tội: "Sau tội ác tầy đình mà sự vô liêm sỉ và đạo đức giả đen tối nhất, pha trộn với lòng hiểm ác thâm độc, đua chen tranh nhau địa vị như thế, ta có cần phải ngạc nhiên trước thái độ của nhà vua đối với các sĩ quan Pháp và các vị thừa sai? Không, dĩ nhiên là không. Minh Mạng, bản chất độc ác, lạnh lùng, đen tối và gian trá, từ nay có thể làm tất cả, mà biết chắc chắn là không bao giờ quá."[44]. Những lời buộc tội gắt gao này cho thấy rõ mục đích của việc bôi nhọ Minh Mạng: để tố cáo thái độ của Minh Mạng đối với các thừa sai và các "sĩ quan" Pháp. Đó là động lực chính. Bởi vì nhà vua có chính sách đối ngoại cứng rắn, ông xây dựng một quốc gia có kỷ cương, quân đội hùng mạnh, trù liệu ngăn chặn trước sự xâm lăng của đế quốc Anh, Pháp, và hạn chế ảnh hưởng đạo Gia Tô, khiến người Pháp không làm gì được, khi ông còn sống. Bôi nhọ Minh Mạng là công tác Trương Vĩnh Ký được Pháp giao phó.
Trương Vĩnh Ký đặt chức tước cho các "sĩ quan" Pháp Trương Vĩnh Ký là người đã đặt chức tước rõ ràng cho các «sĩ quan» Pháp, trong khi các tác giả khác chỉ nói mơ hồ họ là «sĩ quan». Ông viết (xin tóm tắt): "Các vị sĩ quan quả cảm đã dùng tâm và tài phục vụ nhà Nguyễn, là: Các ông J.B. Chaigneau [...] Chúa tàu Long... De Forçant [...] Chúa tầu Phụng... Và Philippe Vannier [...] Các sĩ quan dũng cảm này được các bạn đồng hành xứng đáng lần lượt đi theo: Các ông: Jean-Marie Dayot, hạm đội trưởng, cai quản hai tầu: Đồng Nai và Prince de Cochinchine. Victor Ollivier (ông Tín), sĩ quan công binh; đặc trách tổ chức binh chủng pháo binh và xây thành lũy. [...] Théodore Le Brun, kỹ sư, phụ trách xây dựng thành lũy. Laurent Barisy, Trung tá. Julien Girard de l'Isle-Sellé, Đại tá hải quân. J.M. Despiaux, Thầy thuốc của vua Gia Long. Louis Guillon, Đại uý hải quân. Jean Guilloux, Đại uý hải quân. Tất cả các sĩ quan này đạt danh vọng vì những công trình nổi tiếng của họ, mà đầu óc hẹp hòi, dốt nát, ghen tỵ và xấu xa của đẳng cấp quan lại và nho sĩ kiêu ngạo không thể tha thứ cho họ"[45] Các vị "sĩ quan" quả cảm và đầy thành tích trên đây, thực ra chỉ là những người lính đào ngũ, đến Việt Nam để kiếm của cải, «kho tàng», chúng tôi đã trình bày tiểu sử của họ trong cuốn Vua Gia Long và người Pháp, ở đây chỉ xin tóm tắt lại vài hàng: - Laurent Barisy là một thanh niên phiêu lưu, đã từng làm việc trên các thương thuyền, không có chức tước gì cả. - Théodore Le Brun: lính tình nguyện binh nhì trên tầu Méduse, đào ngũ, đến Nam Hà năm 1790, bỏ đi năm 1791. Không phải là kỹ sư, và cũng không xây dựng thành lũy nào cả. - Jean-Marie Dayot: từng làm việc trên các thương thuyền, đến Nam Hà khoảng 1789, nhận bằng cai đội của vua năm 1790. Dưới quyền Dayot có: Vannier cai đội, quản tầu buôn Đồng Nai cùng với phó cai đội Guilloux. Julien Girard de l'Isle-Sellé, quản tầu buôn Le prince de la Cochinchine, cùng với phó cai đội Guillon. Nhiệm vụ của Dayot là ra nước ngoài mua bán hàng hoá cho Nguyễn Vương. Năm 1792, Dayot phạm tội thâm lạm ngân quỹ. Năm 1795, Dayot làm đắm tầu Đồng Nai, phải trốn đi[46]. Sự tôn tạo những người lính Pháp đào ngũ, phần lớn vô học, sang nước ta kiếm ăn, thành những kỹ sư, đại tá, đại uý hải quân... có mục đích rõ ràng: để lập cho họ những công trạng: đào tạo quân đội, thành lập binh chủng và xây dựng thành đài cho Nguyễn Vương, điều mà họ không có khả năng làm được. - Olivier de Puymanel là trường hợp được Trương Vĩnh Ký tôn vinh nhất, sẽ nói dưới đây.
Dựng chuyện Olivier de Puymanel xây thành trì ở Việt Nam Hệ thống thành Vauban, do Sébastien Le Prestre, marquis de Vauban, sáng tạo năm 1668 ở Pháp. Thành này có đặc điểm: xen kẽ pháo đài lồi ra vào tường thành lõm vào. Khiến lính gác đứng trên pháo đài có thể nhìn thấy cả ba phiá: phải, trái, trước mặt. Thành Vauban thường được biểu thị trên bản đồ bằng những răng cưa. Vì vậy, những bản đồ của người Pháp vẽ các thành luỹ ở Việt Nam, đều có hình răng cưa, tức là biểu đồ của thành Vauban. Nhưng khi ta đến tận nơi xem những thành còn lại từ thời Pháp thuộc như Diên Khánh, Huế, Hà Nội, Sơn Tây... thì tường thành đều thẳng tắp, không có pháo đài, không có chỗ nào lồi ra cả. Chúng tôi đã trình bày và chứng minh việc thành Vauban ảo này trong cuốn Vua Gia Long và người Pháp[47], ở đây chỉ nhấn mạnh thêm hai điểm: 1- Ai đặt bày ra trò có thành Vauban ở Việt Nam? 2- Làm như thế với mục đích gì? Câu trả lời là: chính Trương Vĩnh Ký trong Cours d'Histoire Annamite, năm 1875 đã viết câu: "Ở Sài Gòn, nơi mà ông [Nguyễn Vương] thấy có thể làm dinh cơ vĩnh viễn và thủ đô, ông sai M. Ollivier dựng nên một thành trì, trên đất của làng Tân Khai (1789). Thành hình bát giác và mỗi mặt trổ một cửa. Ngày nay ta còn thấy những dấu vết sau cùng, trong đường hầm nối tiếp phố Pellerin đến giếng thuỷ tĩnh (puits hydrostatique), rồi trở về phía đường Nationale giữa đường Chasseloup-Laubat và đường Mois..."[48] - Năm 1897, Trương Vĩnh Ký, viết lại việc này lần thứ nhì: "Tháng 2 trong năm [1790] vua dạy ông Olivier với ông Le Brun coi xây thành Gia Định tại làng Tân Khai, xây thành Bát Quái có 8 cửa, xây vách thành bằng đá ong Biên Hoà"[49]. Khi tìm lại tiểu sử Olivier tức Olivier de Puymanel và Le Brun, tức Théodore Le Brun, chúng tôi chỉ thấy họ là lính thủy tự nguyện, ít học, chữ viết đầy lỗi, đào ngũ, chưa từng học kỹ sư, kiến trúc, bao giờ[50]. Sự thực, thành Gia Định, còn gọi là Gia Định kinh, đắp năm 1790[51]. Đại Nam thực lục ghi: «Ngày Kỷ Sửu (tháng ba Canh Tuất) [22-4-1790], đắp thành đất Gia Định. Vua thấy thành cũ ở thôn Tân Khai chật hẹp, bàn mở rộng thêm […] Bấy giờ mới huy động quân dân để khởi đắp, hẹn mười ngày đắp xong. Thành đắp theo kiểu bát quái, mở tám cửa, ở giữa là cung điện, bên tả dựng nhà Thái Miếu [...] Thành xong gọi là kinh thành Gia Định. Thưởng cho quân dân hơn 7.000 quan tiền (Tám cửa thành đều xây bằng đá ong, phiá nam là cửa Càn nguyên và cửa Ly minh, phiá bắc là cửa Khôn hậu và cửa Khảm hiểm, phiá đông là cửa Chấn hanh và cửa Cấn chỉ, phiá tây là cửa Tốn thuận và cửa Đoài nguyệt»[52] Những chữ «đắp» được lập đi lập lại trên đây cho biết thành Gia Định làm bằng đất và được đắp, chứ không xây như thành Vauban của Tây. Theo Trịnh Hoài Đức, thành Bát Quái hình vuông, mỗi bề 131 trượng 2 thước (638, 944m). Chu vi 2,555km. Cao 10 thước (4,87m). Chân dày 36,525m. Ngoài thành là lớp hào rộng 51,135m, sâu 6,818m, có cầu treo. Lớp ngoài cùng là luỹ đất, chu vi 794 trượng (3, 866km).
Năm 1795, Shihõken Seishi, người Nhật, bị đắm tầu, thủy thủ đoàn được Nguyễn Vương giúp đỡ, ở lại Gia Định từ tháng 2 đến tháng 5-1795, ông viết tác phẩm Nampyõki (Đắm tầu ở Nam Hải) kể lại hành trình này, mô tả kinh thành Gia Định, vẽ bản đồ thành Gia Định (như dưới đây) không có gì là thành Vauban cả.[53]
Bản đồ Gia Định kinh của Shihõken Seishi, phù hợp với sự mô tả trong Đại Nam thực lục và Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức[54]
Sau này, người ta phóng ra một loạt bản đồ thành Gia Định vẽ rập khuôn giống nhau, theo kiến trúc Vauban, tiêu biểu là bản đồ do Nguyễn Đình Đầu cung cấp trong bài Địa lý lịch sử thành phồ Hồ Chí Minh [55], với chú thích: «Thành Bát Quái, vẽ theo tư liệu của Gia Định thành thông chí, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Trương Vĩnh Ký, bản đồ Brun 1795, Trần Văn Học 1815 và Malleret 1935». Chú thích này rất lạ lùng, Nguyễn Đình Đầu không nói bản đồ này ai vẽ, chắc là chính ông vẽ. Tại sao ông không cho in thẳng những tư liệu gốc, ít nhất bản đồ của Trương Vĩnh Ký, Le Brun... nếu ông có, lên sách? Chúng tôi đoán rằng, ông đã chép lại bản đồ Malleret 1935, và bản đồ này được chỉ định vẽ ra để «chứng minh» việc các sĩ quan Pháp xây thành Vauban trên khắp xứ Việt Nam!
Thành Gia Định, kiểu Vauban, của Nguyễn Đình Đầu[56]
Dẫn đường cho Maybon, Cadière Từ những lời bịa đặt của Trương Vĩnh Ký về việc vua Gia Long dạy [sai] Le Brun và Puymanel xây thành Gia Định, học giả Cadière, năm 1920, trích câu sử gia Maybon phóng tác để ca tụng công trạng những người lính đào ngũ này trong cuốn Histoire moderne du pays d'Annam (1592-1820), như sau: "Họ [những sĩ quan Pháp] đã xây dựng một ngành hải quan theo lối Tây phương, thành lập các thủy thủ đoàn, huấn luyện quân lính; đưa kỷ luật vào quân đội, thành lập cấp chỉ huy; đúc đại bác, dạy cho người Việt cách dùng trái phá, lập đội pháo binh dã chiến mà sự lưu động khiến quân Tây Sơn khiếp sợ; họ đã xây dựng các thành đài."[57] Năm 1921, Cadière viết bài diễn văn chào mừng Thống Chế Joffre đến kinh lý Đông Dương ngày 3-1-1922, tựa đề: Notes sur le corps du génie annamite (Ghi chú về đội công binh An Nam)[58] nhưng thực chất là để vinh thăng công lao của "những vị sĩ quan Pháp đã đến đây vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế Kỷ XIX, cứu nguy Gia Long và giúp ông hoàng này lấy lại vương quốc". Trong bài này, Cadière khoa trương và xác định lại rằng các vị "ân nhân" này đã xây dựng thành trì, đào tạo ra đội ngũ công binh An Nam, thực hiện tất cả những công trình thành quách trải dài từ năm 1804 đến 1844, trên lãnh thổ Việt Nam! Thời Gia Long là các thành: Thanh Hoá, Huế, Quảng Ngãi, Hải Dương, Thái Nguyên, Vĩnh Long, Khánh Hòa, Bình Định. Thời Minh Mạng là các thành: Hưng Hóa, Sơn Tây, Quảng Bình, Ninh Bình, Bắc Ninh, Cao Bằng, Định Tướng, Quảng Yên, Nghệ An, Hưng Yên, Nam Định, Hà Tĩnh, Quảng Nam, An Giang, Hà Nội, Gia Định, Phú Yên, Bình Thuận, Quảng Trị, Biên Hoà[59]. Tóm lại, Trương Vĩnh Ký chính là người đầu tiên, dẫn đường cho sử gia Maybon và học giả Cadière, viết nên những thành tích hoang tưởng của những người lính Pháp đào ngũ. Những điều họ viết, ngang nhiên trở thành «lịch sử».
Tạo ra hệ thống vẽ bản đồ bịa đặt Để «chứng minh» những công trình xây dựng biạ đặt này, chính quyền thuộc địa tung ra hệ thống bản đồ vẽ các thành trì Việt Nam có răng cưa, theo kiểu Vauban, mà Nguyễn Đình Đầu đã sử dụng trong bài Địa lý Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh, in trong sách Địa chí Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh[60]. Những bản đồ bịa đặt này, được sử dụng rộng rãi trong các sách lịch sử điạ lý viết về Việt Nam, và ngày nay được chuyển tải trên Internet. Nhưng các thành Diên Khánh, Huế, Hà Nội, Sơn Tây... ngày nay vẫn còn sờ sờ ra đó; tường lũy thẳng tắp, không hề có một pháo đài nào lồi ra theo kiểu Vauban, nên chúng ta có thể kiểm chứng tại chỗ, không cần đến "tài liệu", đến "sử sách". Một thủ đoạn nữa, cũng cần nói ra: Năm 1863, khi dịch sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1820) sang tiếng Pháp, Aubaret đã loại hẳn Quyển VI, Thành trì chí, bởi vì trong quyển sách này, Trịnh Hoài Đức ghi rõ lịch sử xây cất của hầu hết các thành trì ở miền Nam, bắt đầu với thành Gia Định, ghi tên các quan phụ trách việc đắp thành. Thời Gia Long, tất cả thành trì đều đắp đất, đến thời Minh Mạng mới xây gạch. Tóm lại, từ một thông tin bịa đặt của Trương Vĩnh Ký:"Vua dạy Olivier và Le Brun xây thành Gia Định", Cadière phóng đại thành huyền thoại quân Pháp xây thành Vauban trên toàn thể nước Nam, và chính quyền thuộc địa thuê người vẽ tập bản đồ các thành trì ở Việt Nam, có răng cưa theo kiểu Vauban, để phổ biến. Năm 2017, chúng tôi về Sơn Tây và Hà Nội, vẫn còn thấy người ta rao giảng cho du khách đến thăm thành Sơn Tây và Thăng Long, rằng đây là thành Vauban do người Pháp xây! Bài diễn văn Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs, Trương Vĩnh Ký đọc tại trường Thông ngôn, được Imprimerie Coloniale (Nhà in Thuộc Địa) in năm 1885 ở Sài gòn; nội dung chép lại những điều bịa đặt: Gia Long sai Ollivier xây thành Gia Định, Minh Mạng tàn ác giết Nguyễn Văn Thành, vv... Cuốn sách này được Nguyễn Đình Đầu dịch là Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận, và cho in thành sách, kèm với các bản đồ Pháp vẽ thành Gia Định với răng cưa, theo dạng Vauban (do nxb Trẻ, in năm 1997): Sự ngộ nhận vẫn chua chấm dứt.
Mở đường cho linh mục Louvet và những người đi sau Khoảng mười năm sau cuốn Cours d'Histoire Annamite (Giáo trình lịch sử An-Nam) (1875-1877) của Trương Vĩnh Ký, linh mục Louvet, tiếp tục khai triển khía cạnh "tàn sát đạo Chuá" và biến Minh Mạng thành "bạo chúa Néron" trong bộ sách La Cochinchine Religieuse (Đạo giáo ở nước Nam), được hầu hết các tác giả Việt-Pháp trích dẫn và tin cậy. La Cochinchine Religieuse (2 cuốn) do linh mục Louis-Eugène Louvet (1838-1900) (đã sống ở Việt Nam từ 1873 đến 1896), viết năm 1883, in năm 1885[61], đây là bộ sách thứ ba bôi nhọ nhà Nguyễn, có tầm vóc và ảnh hưởng lớn, sau Ký sự Bissachère và Giáo trình lịch sử An Nam của Trương Vĩnh Ký. Vì tác giả là giáo sĩ thừa sai đã sống dưới thời Tự Đức, cho nên La Cochinchine Religieuse được coi như cuốn lịch sử tử vì đạo đích thực và chân chính, ghi lại "sự tàn sát" đạo Gia Tô dưới thời các "bạo chúa" Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Cuốn sách này phát huy sự căm thù của giáo dân đối với triều đình và kích động chính quyền thực dân xúc tiến việc chiếm lĩnh toàn thể lãnh thổ Việt Nam. Rất nhiều lời tuyên bố của các giám mục, linh mục, về "sự tàn ác" của vua Minh Mạng và Tự Đức, đều được trích dẫn hoặc phỏng theo sách này. Chúng tôi đã trình bày trong chương 8, phần III, cách Louvet "mô tả" chúa Hiền "xử tội voi dầy" đứa bé gái tên là Lucie. Vẫn với "phong cách" như thế, Louvet tạo ra hai "bạo chúa" mới là Minh Mạng và Tự Đức. Chỉ cần chép lại một câu vị linh mục viết về cái chết của vua Minh Mạng, cũng đủ thấy sự căm thù của Louvet đối với Minh Mạng, không thua kém gì Trương Vĩnh Ký: "Vài tuần sau đó[62], kẻ tàn sát cũng lên hầu toà Thượng Đế: Ngày 20 tháng Giêng năm 1841, Minh Mạng bị ngã ngựa, chết bất thình lình và đạo Thiên chúa mà y quyết tâm tận diệt vẫn sống, sống mạnh mẽ hơn, qua mười năm chiến đấu, tự hào với hàng ngàn linh mục và hàng trăm người tử tội. Vì tự mình làm kẻ tàn sát đạo, tên bạo chúa đã bị thần dân của y kinh tởm và có biệt hiệu là bạo chúa Néron Việt Nam. Thay vì lùi, đạo Chúa đã tăng trưởng trong cuộc tranh đấu bền bỉ và đã chiến thắng vinh quang.[63] Tóm lại, để biện hộ cho sứ mệnh truyền giáo, và tạo cho cuộc xâm lăng của Pháp một chính nghiã, hai ngòi bút Trương Vĩnh Ký và Louvet, đã không nề hà trong việc ngụy tạo lịch sử. Tinh thần này sẽ được giới thừa sai và viết sử quảng bá trong hầu hết các sách sử Pháp Việt. Ba điểm quan trọng trong sách Giáo trình lịch sử An nam của Trương Vĩnh Ký được Louvet tiếp tay truyền bá: 1- Bội bạc với công ơn của người Pháp giúp vua Gia Long dựng lại cơ đồ. 1-Đổ tội cho các vua nhà Nguyễn trách nhiệm mất nước. 2-Biện minh cho cuộc xâm lăng của Pháp bằng cách thổi phồng sự tàn sát đạo Thiên chúa của nhà Nguyễn và nêu cao thiên chức cứu đạo của đoàn quân viễn chinh. Được thể hiện rất rõ trong bài Tựa cuốn L'Empire d'Annam (Đế Quốc Annam) của Gosselin, 1904: «Những vị hoàng đế nước Nam; bởi sự bội bạc đối với những người Pháp lẫy lừng đã làm quan cho Gia Long, mà nhờ họ, mới có được ngai vàng; bởi sự tàn ác đối với những giáo sĩ đồng bào của chúng ta; bởi sự cứng đầu điên dại bế quan tỏa cảng; bởi sự khinh bỉ nền văn minh phương Tây, vì kiêu căng ngu muội, họ cho là man rợ; bởi sự kiên trì từ chối tiếp xúc với nước ngoài, trừ nước Tầu; những hoàng đế này, tôi bảo, phải chịu trách nhiệm sự suy đồi và sụp đổ của nước họ, phải gánh vác một mình, sự nhục nhã trước lịch sử.»[64] Nhưng không chỉ có sử gia Pháp, hai sử gia lớn Việt Nam, dù có tham khảo các bộ sử biên niên Thực lục và Liệt truyện, cũng không loại được đầu óc kết tội nhà Nguyễn «ngu muội, tàn ác, làm mất nước», do Trương Vĩnh Kỳ tiên phong gieo rắc từ những năm 1875, 1879. Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược (1920): "Sức đã không đủ giữ nước mà lại cứ làm điều tàn ác. Đã không cho người ngoại quốc vào buôn bán, lại đem làm tội những người giảng đạo, bởi thế cho nên nước Pháp và nước Y Pha Nho mới nhân cớ ấy mà đánh lấy nước ta vậy"[65] Phan Khoang, Việt Nam Pháp thuộc sử (1961): "Ngài [Tự Đức] không hiểu rõ thời thế, cứ tưởng chỉ có nước Tầu, nước Việt Nam mới là văn hiến (...) phần đông các quan đại thần lúc bấy giờ như các ông Nguyễn Đăng Giai, Trương Đăng Quế, Võ Trọng Bình, Nguyễn Tri Phương... đều là hạng người bảo thủ (...) người nước ta còn cho người Âu Châu cũng như rợ Đột-khuyết đời Đường, rợ Kim đời Tống mà thôi. (...) Vì vậy, vua Tự Đức đối với đạo Thiên chúa và với người Tây Dương cứ theo chánh sách của vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị (...) cho nên khi vua quan đã sai đường, lầm nẻo thì cả nước bị bại vong." [66]
Kết luận: Ngay sau khi Pháp chiếm xong miền Lục tỉnh, Trương Vĩnh Ký mở đầu chiến dịch trá mạo lịch sử, xây dựng huyền thoại về công lao của người Pháp, mạt sát vua Minh Mạng, cấp củi lửa cho linh mục Jouvet sáng tạo thêm những "tội ác" của Minh Mạng đối với đạo Gia Tô, gọi Minh Mạng là bạo chúa Néron. Những trá mạo này, vì không ai phản đối hoặc viết lại vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ, trong sử sách. Trương Vĩnh Ký đã hoàn thành công tác lớn lao đối với chính quyền thuộc địa: Xuyên tạc và mạ lỵ Minh Mạng. Tố cáo trách nhiệm mất nước là tại nhà Nguyễn. Chấp nhận cuộc xâm lăng của Pháp là chính đáng. (Còn
tiếp) [1] Cuốn Un savant et un patriote cochinchinois Petrus J.B. Trương Vĩnh Ký (1837-1898) (Một nhà bác học yêu nước người Nam kỳ: Trương Vĩnh Ký) của Jean Bouchot, do nxb Nguyễn Văn Của, in lần thứ ba tại Sài Gòn 1927, chúng tôi đã giới thiệu trong Chương 11: Trương Vĩnh Ký (1837-1898), phần III: Vinh dự lầm than. [2] Bouchot viết tiếp: «Kho lưu trữ của gia đình ông cho biết: khoảng 1864, ông in cuốn «Abrégé de grammaire annamite» (Tóm lược văn phạm An Nam), bằng tiếng Pháp và cuốn «Grammaire française» (Văn phạm tiếng Pháp) bằng tiếng Annam, sự thành công tức khắc của hai tác phẩm này, khiến sau đó, văn bản dành cho quần chúng bản địa, được in 2 lần liên tiếp. Rồi đến cuốn «Cours pratiques de langue annamite à l'usage du Collège des Interprètes» (Giáo trình thực tập tiếng Việt dùng cho Trường Thông Ngôn), ấn bản đầu tiên năm 1865, và những cuốn «Sơ học vấn đáp» (Notions élémentaires de conversation) được in dần dần từ năm 1871 đến 1894».(Trích Un savant et un patriote cochinchinois Petrus J.B. Trương Vĩnh Ký, Chương II, tựa đề Les Débuts (Những bước đầu), trang 27-29) [3] Dayot và Le Brun là hai người Pháp đến giúp Nguyễn Ánh, xem Vua Gia Long và người Pháp, Thụy Khuê. [4] Trích Jean Bouchot, trong cuốn Un savant et un patriote cochinchinois Petrus J.B. Trương Vĩnh Ký (1837-1898) Chương II, tựa đề Les Débuts (Những bước đầu), trang 27-29. [5] Bouchot, Un savant et un patriote cochinchinois Petrus J.B. Trương Vĩnh Ký (1837-1898) trang 27-29. [6] Đại Nam Thực Lục Tiền Biên và Chính Biên, Tập Một, trang 491, 498, 529, 569, 572, 581, 582. [7] Đại Nam Thực Lục Tiền Biên và Chính Biên, Tập Một, trang 583-587. [8] Những việc này chúng tôi đã nói đến trong chương 9, phần II. [9] Đại Nam thực lục tiền biên và chính biên, tập một, trang 588. [10] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập một, trang 280-281. [11] Đại Nam thực lục, tập năm, trang 276. [12] Đại Nam thực lục, tập năm, trang 276-277. [13] Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam, Nguyễn Phước Tộc xuất bản, California, 1990, trang 132. [14] Nói đến hai chữ Cochinchine và Tonkin, chúng tôi xin sơ lược nhắc lại nguồn cội hai chữ này, người Bồ đặt, người Pháp chép lại: Chữ Cochinchine do người Bồ ghép hai chữ Cochin (Kochi), tên một thành phố ở Ấn Độ với chữ Chine, là vùng đất giữa Ấn Độ và Trung Hoa, để chỉ nước ta, lúc họ mới đến Đàng Trong. Chữ Cochinchine để chỉ Đàng Trong, thuộc chúa Nguyễn, tức miền Nam.Thời Tây Sơn gọi là Nam Hà. Thời Pháp thuộc gọi là Nam Kỳ. Chữ Tonkin, cũng do người Bồ phiên âm, khi họ đến Thăng Long, lúc đó có tên chính thức là Đông Kinh (tức kinh đô phiá Đông, để phân biệt với Tây đô, tức Thanh Hoá, là kinh đô phiá Tây). Đông Kinh được người Bồ phiên âm thành Tunkin, sau người Pháp viết là Tonkin. Chữ Tonkin vừa chỉ Thăng Long, vừa chỉ cả vùng Đàng Ngoài, thuộc chúa Trịnh, tức là miền Bắc. Thời Tây Sơn gọi là Bắc Hà. Thời Pháp thuộc gọi là Bắc Kỳ. [15] Trích thư Bá Đa Lộc viết cho Létondal, Quản thủ Tu viện Macao ngày 17-8-1789, in trong sách Lịch sử truyền giáo của Launay, tập III, trang 209. Xem toàn bộ vụ việc Bá Đa Lộc tay không trở về Việt Nam, được Maybon trá mạo thành một danh sách thuyền bè, súng ống... trong cuốn Vua Gia Long và người Pháp của Thụy Khuê, chương 14, tựa đề: Maybon và cuốn Histoire moderne du pays d'Annam, trang 337-366. [16] Bài này in trên tập san Bulletin de la Société de l'enseignement mutuel du Tonkin, tome XVII, 1937 (trang 25-67), được Nguyên Ngọc dịch sang tiếng Việt là Đôi nét về danh nhân văn hóa Trương Vĩnh Ký (1837-1898), in lại trên Website của Hội Ái hữu cựu học sinh trường Petrus Trương Vĩnh Ký ở Úc châu. [17] Sách này do Ban Khoa Học và Xã hội Thành ủy Thành Phố Hồ Chí Minh, in năm 1992. [18] Nguyễn Văn Trấn, Trương Vĩnh Ký (con người và sự thật) Ban Khoa Học Xã Hội Thành Ủy TpHCM, 1993, trang 44. Bouchot trang 31, note (1). [19] Ám chỉ các cuộc nổi loạn nhân danh nhà Lê [do các thừa sai thúc đẩy và trợ giúp]. [20] Nguyễn Văn Trấn, trang 48-49. [21] Sách này do nhà Champion, Paris, in lại năm 1920, gọi tắt là Ký sự Bissachère (1764-1830). [22] Ký sự Bissachère (1764-1830) được in ở Anh từ năm 1810. Năm 1920, nxb Champion, Paris, in lại, gọi là Ký sự Bissachère, trong có Bài Tựa (Introduction) của viên sỹ quan kỵ binh Félix Renouard de Sainte-Croix (1767-1840). Chúng tôi đã trình bày nội dung và bài Tựa sách này trong cuốn Vua Gia Long và người Pháp (Công ty Saigon-books và Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2017), trong chương 9 tựa đề: Ký sự Bissachère, thủy tổ sự bóp méo lịch sử và chương 10: Bài Tựa (Introduction) của Sainte-Croix (trang 213-243). [23] Về Bissachère và de Sainte-Croix, xem thêm Vua Gia Long và người Pháp của Thụy Khuê, trang 215- 216. [24] Xem lại Chương 6: Hội thừa sai Paris. [25] Trương Vĩnh Ký, Cours d'Histoire Annamite, Imprimerie du Gouvernement, Sài Gòn, volume 2, pages 251-252. [26] Nguyên văn tiếng Pháp: «...de la jalousie haineuse des mandarins et des lettrés dont à part quelques exceptions... tous les efforts tendaient à soustraire Gia Long à l'influence française.» Trương Vĩnh Ký, Cours d'Histoire Annamite, Imprimerie du Gouvernement, Sài Gòn, 2e volume, trang 256. [27] Trích dịch Cours d'Histoire Annamite, trang 259-261. [28] Chú thích của Trương Vĩnh Ký: có nghiã là được chọn một trong ba cách chết: thắt cổ hay treo cổ. Uống thuốc độc. Dùng kiếm cắt cổ. [29] Cours d'Histoire Annamite, trang 259-261. [30] Đại Nam liệt truyện tập 2 (tức Đại Nam liệt truyện chính biên sơ tập), nxb Thuận Hoá, Huế, 1997, trang 8-9. [31] Vua, chúa thời đó có tới một, hai trăm con, là thường. [32] Đại Nam Thực Lục chính biên, trang 912. [33] Đại Nam Thực Lục chính biên, trang 920. [34] Cours d'Histoire Annamite, trang 255. [35] Nguyễn Kim, dù được phong là Triệu tổ, tức hoàng đế đầu tiên của nhà Nguyễn, nhưng vợ ông, là mẹ của chúa Tiên Nguyễn Hoàng tức Thái Tổ, vẫn ở trong mục Hậu phi liệt truyện. Sở dĩ những bà Phi của chúa Nguyễn, dù con lên làm chúa, sinh thời vẫn không được phong hoàng hậu, bởi vì chúa Nguyễn chỉ là chúa, vua Lê mới thực sự là vua. Đến thời Gia Long, mới có quyết định thăng chức Hoàng hậu cho các bà phi thời trước là mẹ chúa. [36] Đại Nam thực lục Tiền biên và Chính biên, trang 208. [37] Chú thích của Liệt Truyện: chữ Cảnh này nghiã khác với chữ Cảnh tên thái tử Cảnh. [38] Đại Nam liệt truyện, tập 2, [tức là Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập] nxb Thuận Hoá, Huế, 1997, trang 52-53. [39] Đại Nam liệt truyện, tập 2, các trang 54, 55, 56. [40] Đại Nam liệt truyện, tập 2, trang 53-58. [41] Thơ rằng [Phiên âm]: Văn dạo Ái Châu đa tuấn kiệt Hư hoài trắc tịch dục cẩu ti Vô tâm cửu bảo Kinh Sơn phác; Thiện tướng phương tri Ký Bắc kỳ. U cốc hữu hương thiên lý viễn: Cao cương minh phượng cửu cao tri. Thử hồi nhược đắc sơn trung tế. Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky Dịch: Nghe nói Ái Châu nhiều tuấn kiệt Dành để chiếu bên ta muốn chờ, Vô tâm ôm mãi ngọc Kinh Sơn Tay sành mới biết ngựa Ký Bắc. Thơm nghìn dậm lan trong hang tối: Vang chín chằm phương hót gò cao. Phen này nếu gặp tể [tướng] trong núi, Giúp ta kinh luân chuyển hóa cơ. [42] Đại Nam thực lục chính biên, Tập 1, trang 912-914. [43] Đại Nam thực lục chính biên, Tập 1, trang 948. [44] Nguyên văn tiếng Pháp: "Faut-il après un pareil crime, où le cynisme et l'hypocrisie la plus noire, se mêlant à la plus profonde scélératesse, semblaient se disputer la palme, s'étonner de sa conduite envers les officiers français et les missionnaires? Non, évidemment. Minh Mạng, nature méchante, froide, sombre et fausse, pouvait désormais tout entreprendre, sûr de ne jamais aller au-delà". (Cours d'Histoire Annamite, trang 260). [45] Cours d'Histoire Annamite, trang 226-227. [46] Vua Gia Long và người Pháp, các trang 535-546- 442-448 -449-489. [47] Vua Gia Long và người Pháp, 2017, trang 307-335. [48] Trương Vĩnh Ký, Cours d'Histoire Annamite, trang 227. [49] Trương Vĩnh Ký, Biên Tích Đức Thầy, Pinho Quận Công, Sài Gòn, 1897, trang 33.
[50] Xem Vua Gia Long và người Pháp, Chương 12: Huyền thoại Le Brun và Puymanel xây thành Gia Định và Diên Khánh (trang 307-335). [51] Xem Vua Gia Long và người Pháp, chương 13 Gia Định kinh (trang 287-355). [52] Đại Nam thực lục, tập1, trang 257. [53] Tác phẩm Nampyõki được Muramatsu Gaspardonne dịch sang tiếng Pháp, giới thiệu và chú giải, in trong Bulletin de l'Ecole Francaise d'Exrême-Orient (BEFFO), 1933, trang 35-120. [54] Trích Vua Gia Long và người Pháp, trang 325. [55] Bài này được in trong Điạ chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, nxb thành phố HCM, 1987, trang 127-231. [56] Trích Vua Gia Long và người Pháp trang 319. [57] Maybon, Histoire moderne du pays d'Annam (1592-1820) Lịch sử hiện đại nước An Nam (1592-1820), Plon-Nourrit, Paris, 1920, trang 279. [58] Notes sur le corps du génie annamite (Ghi chú về đội công binh An Nam, BAVH, số 1921, trang 284-288. [59] Notes sur le corps du génie annamite (Ghi chú về đội công binh An Nam, BAVH, số 1921, trang 287. [60] Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1987. [61] Louvet sinh tại Rouen ngày 17-5-1838, thụ phong linh mục ngày 19-12-1863. Ngày 14-8-1872, gia nhập Hội Thừa Sai Paris. Đi miền tây Nam Kỳ ngày 29-1-1873. Ở lại Việt Nam đến 1896, bị liệt và qua đời tại Sài Gòn ngày 2-8-1900, chôn trong mộ Bá Đa Lộc. [62] Ý Louvet muốn nói: sau khi "tra tấn và giết chết" giáo sĩ Gilles Delamotte (nhưng người này không có tên trong danh sách tử vì đạo của Hội Thừa Sai). [63] Nguyên văn tiếng Pháp: "A quelques semaines de là, leur persécuteur les suivait au tribunal de Dieu. Le 20 Janvier 1841, Minh-mang succombait presque subitement à la suite d'une chute de cheval, et la religion chrétienne qu 'il s'était promis d'anéantir était toujours vivantese faire persécuteur, le tyran avait gagné l'exécrationde ses sujets et le surnom de Néron annamite. loin de reculer, le christianisme avait progressé dans cette lutte implacable,dont il sortait finalement victorieux". Louis-Eugène Louvet, Đạo Giáo ở nước Nam (La Cochinchine Religieuse,1885, tập II, t. 115-116. [64] Nguyên văn tiếng Pháp: «Les empereurs d'Annam, par leur ingratitude envers les brillants Francais, officiers de Gia Long, dont le concours leur assura la possession de leur trône, par leurs cruautés envers les missionnaires nos compatriotes, par leur fol entêtement à se maintenir isolés du monde entier, par leur mépris pour notre civilisation occidentale que, dans leur ignorant orgueil, ils qualifiaient barbarie, par leur constant refus, enfin, d'entretenir avec toutes les nations du monde, la Chine seule exceptée, des relations diplomatiques, ces empereurs, dis-je, sont responsables de la décadence et de la ruine de leur pays; ils en supporteront seuls, la honte devant l'histoire» Charles Gosselin, L'Empire d'Annam, Paris, Librairie Académique Didier, Perrin et Cie, Libraires-Editeurs, 1904, trang XVII. [65] Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, bản Bộ Quốc Gia Giáo dục, 1971, trang 242. [66] Phan Khoang, Việt Nam Pháp thuộc sử, Sống Mới, Sài Gòn, 1961, trang 105-106.
|