Thụy Khuê

 Lịch sử truyền giáo và chữ quốc ngữ

Chương 13

Vua Thiệu Trị

Phần II

Trận Đà Nẵng 1847

Trận Đà Nẵng 15-4-1847, theo họa đồ của Pháp.

 

Ngày 15-4-1847, hai tầu chiến Pháp la Gloire la Victorieuse, do Đại tá Edouard de Lapierre Trung tá Charles Rigault de Genouilly điều khiển, tấn công tiêu diệt năm tầu chiến bọc đồng của hạm đội triều đình đậu trong vịnh Đà Nẵng, trong lúc vua Thiệu Trị còn đang ngần ngại chưa quyết định cho tự do giảng đạo, bởi nếu để giáo sĩ (Pháp) tự do vào giảng đạo, thì Anh cũng sẽ đòi quyền tự do đem nha phiến vào bán.

Trong lúc tình hình chưa ngã ngũ, hai tầu chiến Pháp thình lình tấn công triệt hạ tiềm lực của hạm đội Đại Việt.

Từ đó, người Tây dương dứt khoát bị coi là tráo trở, dưới mắt phần đông người Việt, nhất là vua, quan và các trí thức nho học, trọng chữ tín.

Sau trận đánh chớp nhoáng này, quan hệ Việt Pháp hoàn toàn thay đổi, trong ngôn ngữ chính thức của triều đình, xuất hiện những chữ: giảo trá, mọi rợ, sài lang, ngông cuồng... chưa từng thấy trước đó để chỉ định người Pháp nói riêng, và người Âu nói chung.

Theo Đại Nam Thực Lục, sau trận đánh này, thuyền Tây dương lại đến xin thông thương và xin bỏ cấm đạo:

«Vua nói: "Người Tây dương lòng vốn giảo trá, nếu [bỏ] cấm [đạo] thì Anh Cát Lợi nghe thấy, cũng sẽ cầu xin bỏ cấm thuốc phiện. Nhung Địch là giống sài lang, không thể thỏa mãn nó được! Làm thế nào mà việc gì cũng theo gượng như chúng sở cầu? Vả lại, đạo Gia Tô là tà giáo, cái hại rồi đến bới chuyện ngoài biên, mở đường chinh chiến. Thuốc phiện là thứ thuốc mê, cái hại rồi đến khuynh gia bại sản, hại tính mệnh người.»[1]

Ngày 17-8 năm Đinh Mùi [25-9-1847] vua Thiệu Trị gọi các đại thần Trương Đăng Quế, Vũ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Thiếp vào dặn dò.

Giờ Sửu, ngày 27-9 năm Đinh Mùi [4-11-1847] vua băng hà, ở tuổi 40.

Trận chiến chớp nhoáng Đà Nẵng ngày 15-4-1847, là rường mối những sự việc xẩy ra 11 năm sau với trận Đà Nẵng 1858, mở đầu cuộc chiến xâm lăng của Pháp.

Phiá Pháp trình bày trận Đà Nẵng 1847 như một sự «hiểu lầm» đưa đến một trận chiến «hợp lệ». Jurien de la Gravière, thuyền trưởng tầu La Bayonnaise, người kế vị de Lapierre trong chức Tư lệnh thủy quân Đông Dương, viết:

«Một sự hiểu lầm trầm trọng dẫn đến trận ngày 15-4, một trận chiến hợp lệ (une bataille en règle) hai tầu chiến Pháp tiêu diệt năm tầu chiến Việt. Được tin, Thiệu Trị nổi cơn thịnh nộ: ra lệnh đập tan tất cả những đồ vật đến từ phương Tây ở trong cung, đùng đùng vận dụng vũ khí phòng thủ và hăm dọa trong những tháng tới sẽ ra bốn dụ cấm đạo»[2]

Jean-Louis de Lanessan, học giả, dân biểu, toàn quyền Đông Dương (1891-1894), Bộ trưởng hải quân Pháp (1899-1902), viết:

"Năm 1847, dưới triều Thiệu Trị, xẩy ra cuộc xung đột đầu tiên giữa Annam và Pháp; năm chiến thuyền An Nam, đã đe dọa tấn công hai tầu chiến la Gloire và la Victorieuse của Pháp, do Lapierre và Rigault de Genouilly điều khiển, bị tiêu diệt ở vịnh Đà Nẵng. Thiệu Trị chết vì phiền muộn".[3]

Hai đoạn văn trên tiêu biểu cho cách viết của Pháp về trận Đà Nẵng 1847, mục đích giảm khinh trách nhiệm của kẻ tấn công, có thể tóm tắt như sau: Đối với họ, tất cả chỉ là sự «hiểu lầm» giữa đôi bên, trận Đà Nẵng đã «đàng hoàng» diễn ra theo theo «đúng quy luật» (theo Jurien de la Gravière). Phiá Việt «tấn công trước» và bị Pháp đánh bại (theo Jean-Louis de Lanessan), nhưng đồng thời họ cũng nói rõ hơn về cái chết của vua Thiệu Trị, mà Đại Nam Thực Lục không (thể) nói: sau trận Đà Nẵng, vua có những cơn thịnh nộ, dẫn đến cái chết, mà de Lanessan gọi là vì «phiền muộn».

Nhưng trận Đà Nẵng có phải là «sự hiểu lầm» giữa đôi bên, và là một trận đánh theo «đúng quy luật» chiến tranh không? Có phải Việt Nam tấn công trước vào một hạm đội tiên tiến nên đã chuốc lấy thảm bại  không?

Để trả lời hai câu hỏi này, ta cần phải tìm lại những văn bản gốc, do chính những người đã tham dự hoặc chứng kiến trận Đà Nẵng 1847 thuật lại, với sự thành thật hay dối trá của họ, từ đó, mới mong tìm thấy sự thật lịch sử.

 

 

 

Những cách trình bày trận Đà Nẵng 1847, từ trước đến giờ

Sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược in năm 1920, viết về trận Đà Nẵng như sau:

“Năm đinh tị (1847) quan nước Pháp được tin rằng ở Huế không còn giáo sĩ phải giam nữa, mới sai đại tá de Lapierre và trung tá Rigault de Genouilly đem hai chiến thuyền vào Đà Nẵng, xin bỏ những chỉ dụ cấm đạo và để cho người trong nước được tự do theo đạo mới.

Lúc hai bên còn đang thương nghị về việc ấy thì quan nước Pháp thấy thuyền của ta đóng gần tầu của Pháp và ở trên bờ lại thấy có quân ta sắp sửa đồn lũy, mới nghi có sự phản trắc gì chăng, bèn phát súng bắn đắm cả những thuyền ấy, rồi nhổ neo kéo buồm ra bể.[4]

Đây là một cuốn sử lược nên không thể viết chi tiết, nhưng sự tóm lược này chỉ là lược lại sách Pháp, có những điểm trái với sự thật:

Thực ra, không có sự “thương nghị” nào cả, vì theo thư của Giám mục Forcade (xem ở dưới): “Vừa đến Đà Nẵng, Tư lệnh Lapierre đã quyết định đánh mạnh, để bắt buộc họ phải chấp nhận điều chúng tôi mong muốn”. Tức là đánh để buộc các quan phải nhận thư. Câu tiếp theo: “Lúc hai bên còn đang thương nghị về việc ấy thì quan nước Pháp thấy thuyền của ta đóng gần tầu của Pháp và ở trên bờ lại thấy có quân ta sắp sửa đồn lũy, mới nghi có sự phản trắc gì chăng, bèn phát súng bắn đắm cả những thuyền ấy, rồi nhổ neo kéo buồm ra bể”, vẫn tiếp tục sai lầm, vì những lẽ:

- Không có sự “thương nghị về việc ấy”, vì bên Việt chưa chịu nhận thư thì làm sao biết được  Pháp đòi gì mà thương lượng.

- Câu “quan nước Pháp thấy thuyền của ta đóng gần tầu của Pháp”, rất lạ lùng, bởi vì tầu Pháp là tầu ngoại quốc vào hải cảng nước ta, được chỉ định đậu ở chỗ nào, thì họ phải theo, họ không có quyền trách thuyền ta đóng gần tầu Pháp!

- Thấy trên bờ quân Việt “sắp sửa đồn lũy”, tầu Pháp “bèn phát súng bắn đắm cả những thuyền [đồng] ấy rồi nhổ neo kéo buồm ra bể”: Đến xứ người ta, “thấy” người ta “sắp sửa đồn lũy”, liền bắn trước rồi bỏ chạy ra bể, là hành động gì, nếu không phải là “côn đồ”?

Tóm lại, sử gia Trần Trọng Kim đã viết sử theo quan niệm của Pháp, coi việc tầu Pháp có quyền vào vịnh Đà Nẵng gây hấn rồi chạy đi, là đương nhiên.

Và đó cũng là tinh thần chung trong các bộ sử mà chúng ta phải học, từ khi Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim ra đời (1920), tức là từ hơn thế kỷ nay.

 

Tinh thần này tiếp tục, năm 1970, sử gia Nguyễn Thế Anh «nhận định» trận Đà Nẵng 1847 là «một sự thị uy», và còn đi xa hơn Trần Trọng Kim trong việc chỉ trích triều đình Huế: «không có một biện pháp đối phó nào, ngoài sự cấm đạo» trước mối đe dọa của Tây phương, mà còn «tàn sát», «lưu đầy» hai vạn giáo dân, dưới thời Tự Đức (một con số khổng lồ), không biết ông Nguyễn Thế Anh, dựa vào đâu, để viết câu này:

«Sự thị uy của các chiến thuyền Pháp tại Đà Nẵng [1847] cho thấy rõ nguy cơ đương đe dọa nước Việt Nam. Các quan trong triều vua Tự Đức mới kế vị Thiệu Trị không phải là không ý thức được mối đe dọa ấy; trong các bản sớ tâu lên nhà vua, nhiều người đã đề cập đến sự bành trướng thế lực của người Âu tại Viễn Đông[5]. Nhưng triều đình đã không có một biện pháp đối phó nào, ngoài sự cấm đạo Thiên chúa ngặt nghèo hơn trước. Nhân vụ An Phong Công Hồng Bảo mưu nghịch, tìm sự ủng hộ của các giáo sĩ Âu Châu để đoạt ngôi báu. Vua Tự Đức nghi ngờ các nhà truyền giáo nhúng tay vào đời sống chính trị VN, và cho công bố 2 đạo dụ cấm đạo mới năm 1848 và 1851. Từ năm 1848 đến năm 1860, tại Bắc Việt Nam có đến 10 giáo sĩ người Âu và khoảng 100 giáo sĩ người Việt bị xử tử. Tại Nam Việt Nam vào khoảng 15 giáo sĩ ngoại quốc và 20 giáo sĩ người Việt bị giết. Hai vạn giáo dân bị tàn sát hay bị lưu đầy.»[6]

Đoạn văn trên đây của Nguyễn Thế Anh, từ ngôn ngữ đến dữ kiện, đều không chính xác:

- Trận Đà Nẵng 1847 là một trận đánh bất ngờ tàn phá lực lượng thủy quân Đại Việt, không thể coi là một «sự thị uy» của các chiến thuyền Pháp tại Đà Nẵng. Không một nước nào có quyền “thị uy” với nước khác bằng một thủ đoạn như thế.

- Câu:“sự cấm đạo Thiên chúa ngặt nghèo hơn trước”cần được giải thích. Việc cấm đạo ở nước ta, cũng như ở Trung Hoa, Nhật Bản, có lý do rõ ràng: Vì đạo Gia-Tô không cho phép giáo dân thờ cúng tổ tiên[7], trái với văn hóa Việt Nam, nên mới bị cấm[8], nhưng các sử gia Pháp, Việt thường lờ đi, không nhắc đến lý do quan trọng này.

- Câu:“Nhưng triều đình đã không có một biện pháp đối phó nào”, hoàn toàn sai.

Theo Đại Nam thực lục: Mùa hạ, tháng 4, năm Đinh Mùi (tháng 5-1847) tức là ngay sau trận Đà Nẵng 15-4-1847, vua Thiệu Trị đã ra lệnh phòng thủ Gia Định (Sài-Gòn) và Hải Phòng là những nơi quan yếu. Riêng Đà Nẵng, sự phòng bị rất triệt để: vua cho vẽ lại bản đồ Đà Nẵng, lập thêm đồn trú ở những chỗ hiểm yếu, đắp nhiều núi đất để dựng đồn phòng thủ. Đặt 7 đồn Trấn Dương [chống quân Tây Dương] ở ven biển tỉnh Quảng Nam và cho đúc thêm nhiều vũ khí hạng nặng v.v... (xem ở dưới).

Nhờ sự phòng thủ này mà quân Pháp không đánh hay không thể đánh Đại Việt trong 11 năm.

Năm 1858, liên quân Pháp-Y Pha Nho tấn công Đà Nẵng lần thứ hai: Những đồn Trấn Dương xây dựng sau trận Đà Nẵng 1847, dưới thời vua Thiệu Trị đã gây khó khăn cho Rigault de Genouilly và Palanca trong trận Đà Nẵng 1858.

Ngoài ra, các sử gia Việt Nam thường chép lại những con số khổng lồ giáo dân bị tàn sát, mà không ghi rõ nguồn cội.

Những cách viết sử như thế, đưa đến những cái nhìn sai lệch về lịch sử, không giúp ích gì cho người đọc.

 

 

Georges Taboulet, Bùi Quang Tung và trận Đà Nẵng 1847

Cho tới ngày nay, có hai sử gia đưa ra một số tư liệu đáng chú ý về trận Đà Nẵng 1847, đó là Georges Taboulet và Bùi Quang Tung.

Taboulet trong cuốn La geste Française en Indochine (Huân trạng của người Pháp ở Đông Dương), Tập I, do Nxb Maisonneuve in năm 1955 ở Paris, chọn in ba thoại, của Giám mục Forcade, của Tư lệnh Jurien de la Gravière và của thương gia Géraud.

1- Giám mục Forcade, là thông ngôn cho Đại tá de Lapierre trên tầu la Gloire. (De Lapierre là người thay thế đô đốc Cécille làm Tư lệnh hải quân Pháp ở biển Đông và cầm đầu cuộc  tấn công Đà Nẵng 1847).

2- Jurien de la Gravière, là thuyền trưởng tầu La Bayonnaise, thay thế de Lapierre trong chức Tư lệnh Hải quân Pháp ở biển Đông.

3- Géraud là thương gia người Bordeaux, ông viết lại trận đánh theo lời kể của các quan.

Ba tài liệu này được Taboulet in lại trong La Geste française en Indochine, (Huân trạng của người Pháp ở Đông Dương), là ba văn bản xuất hiện có lẽ sớm nhất sau trận Đà Nẵng 1847.

Năm 1995, sử gia Bùi Quang Tung viết bài nghiên cứu bằng tiếng Pháp, tựa đề: Le combat naval de Tourane (1847), une nouvelle approche (Trận thủy chiến Đà Nẵng (1847), một cách tiếp cận mới) đăng trên Revue d'Histoire Outre Mers, số 306, 1995, trang 5-21.

Giáo sư Bùi Quang Tung cho in những lá thư về phía Pháp, đặc biệt ông tìm thấy hai thư của Đại tá de Lapierre (một gửi vua Thiệu Trị và một gửi Bộ trưởng Thủy quân và Thuộc địa). Và ông in một số trích đoạn Đại Nam Thực Lục, do ông dịch sang tiếng Pháp, như muốn thể hiện sự trung thực, không thiên vị bên nào, tuy nhiên trong phần Kết luận, ông viết:

«Trận thủy chiến Đà Nẵng có thể coi như dấu hiệu cuộc đua trước khi Pháp can thiệp bằng võ lực vào Việt Nam. Nó đánh dấu khởi điểm quan trọng của lịch sử nước này. Nó chứng tỏ sự yếu kém về quân sự của triều đình Huế: không giữ vững được lãnh hải của mình, sức mạnh thủy quân không đáng kể, thậm chí lạc hậu, lục quân cũng vậy, như ta sẽ thấy những sự việc xẩy ra chứng minh điều đó. Sau cùng, vì đóng cửa với bên ngoài, nên bị cô lập chính trị và chỉ có để trông vào sức mình để tự vệ...»[9]          

Mới đọc, ta tưởng những lời này là của Bùi Quang Tung, nhưng không phải, ông tổng hợp lời hai tác giả người Âu: Taboulet và John Davis, chỉ trích nước Việt sau trận Đà Nẵng 1847.

Cách viết sử đại loại như thế hiện diện trên sách sử Pháp, Việt, trong thế kỷ XX, đồng thanh buộc tội nhà Nguyễn làm mất nước, như lời Trần Trọng Kim:

«Sức đã không đủ giữ nước mà lại cứ làm điều tàn ác. Đã không cho người ngoại quốc vào buôn bán, lại đem làm tội những người đi giảng đạo, bởi thế cho nên nước Pháp và nước Y Pha Nho mới nhân cớ ấy mà đánh nước ta vậy»[10].

Lời sỉ nhục này, in trong sách Việt Nam Sử Lược, và được dạy ở các trường học, từ năm 1920, đã trở thành “sự thật lịch sử”.

Nhưng đó là một thứ lịch sử buộc tội không bằng chứng, mà ngày nay chúng ta bắt buộc phải thẩm tra lại, kể từ cuộc tấn công Đà Nẵng 1847, trận chiến Pháp-Việt đầu tiên.

 

 

 

Một lối nghiên cứu lịch sử có tính cách buộc tội

Bẩy mươi lăm năm sau Trần Trọng Kim (1920), sử gia Bùi Quang Tung, khuôn mặt nổi tiếng thận trọng về sử học với những tìm tòi mới, viết bài tiếng Pháp tựa đề Le combat naval de Tourane (1847), une nouvelle approche (Trận thủy chiến Đà Nẵng (1847), một cách tiếp cận mới). Công trình  này chia làm ba phần:

I- Le conflit vu du côté Français  (Cuộc xung đột nhìn từ phía Pháp).

II- Le conflit vu du côté  vietnamien (Cuộc xung đột nhìn từ phía Việt Nam).

III- A qui incombe la responsabilité? (Ai chịu trách nhiệm?).

Phần I, Bùi Quang Tung cho in ba lá thư sau đây:

1- Lettre du capitaine de vaisseau Lapierre au roi de Cochinchine (Thư đại tá Lapierre gửi vua nước Nam).

2- Lettre du commandant Lapierre au ministre de la Marine et des Colonies (Thư thuyền trưởng Lapierre gửi bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa).

3- Extrait de la correspondance officielle du chef de poste de la Légation en Chine (Trích lục văn thư chính thức của Trưởng đoàn ngoại giao [Pháp] ở Trung quốc).

Phần II, ông cho in một số trích đoạn trong Đại Nam thực lục.

Phần III, ông đặt câu hỏi: A qui incombe la responsabilité?(Ai chịu trách nhiệm?). Và đưa ra tài liệu, bản Trích lục lá thư của Giám mục Legrand, khâm mạng tòa thánh gửi ông Charrier, Giám đốc Hội Thừa Sai (L'extrait d'une lettre de Mgr Legrand, missionnaire apostolique, à M. Charrier, directeur du Séminaire des Missions étrangères).

Phần Annexe (Phụ lục), có ba văn bản sau đây:

Annexe I: Bản dịch lệnh tấn công của Đào Trí Phú (Traduction de l'ordre d'attaque de Daotrifou Dao) (Revue d'Histoire Outre Mers, số 306, năm 1995, trang  19).

Annexe II: Trích sách của Ông John Davis, Trung Hoa từ chiến tranh đến hoà bình (Extrait du livre de Sir John Davis, China during the war and since the peace), London, 1852, t.II. Pp 296-299.

Annexe III: Trích bài viết của G. Taboulet (Extrait de l'article de G. Taboulet) in trong Revue maritime, 1957, pp 215-216).

Sau cùng, trong phần Résumé (Tóm tắt), Bùi Quang Tung viết:

«Ngày 15-4-1847, ở Đà Nẵng, hai tầu chiến Pháp tiêu diệt, trong khoảng một giờ phần lớn   hạm đội Việt Nam. Biến cố đẫm máu này là hệ quả của sự hiểm lầm giữa hai bên cả về chính trị lẫn ngoại giao. Lợi ích của bài viết này là sự đối chất lần đầu những tài liệu Pháp, Việt, và Anh, về vấn đề này để thử giải thích một bi kịch có hậu quả quan trọng cho hai nước, Pháp Việt.»[11] Và ông kết luận:

«Trận thủy chiến Đà Nẵng có thể coi như dấu hiệu cuộc đua trước khi Pháp can thiệp bằng võ lực vào Việt Nam. Nó đánh dấu khởi điểm quan trọng của lịch sử nước này. Nó chứng tỏ sự yếu kém về quân sự của triều đình Huế: không giữ vững được lãnh hải của mình, sức mạnh thủy quân không đáng kể, thậm chí lạc hậu, lục quân cũng vậy, như ta sẽ thấy những sự việc xẩy ra chứng minh điều đó. Sau cùng, vì đóng cửa với bên ngoài, nên bị cô lập chính trị và chỉ có thể trông vào sức mình để tự vệ.

Nhược điểm phòng thủ, cộng thêm tình trạng cô lập ngoại giao, khuyến khích chính phủ Pháp dấn thân vào cuộc chinh phục. Việc này diễn ra 10 năm sau đó, với việc chiếm Đà Nẵng năm 1858, chiếm Sài gòn năm 1859, rồi chiếm Hà Nội năm 1883 và chiếm Huế năm 1885, chấm dứt nền độc lập của Việt Nam[12]

Lời buộc tội gắt gao trên đây của Bùi Quang Tung, một sử gia nổi tiếng, lại cũng hoàn toàn đứng về phe xâm lược, vì những lẽ:

- Không ai coi một nước yếu, bị nước khoẻ xâm lăng là «đáng (kiếp)» vì không giữ được bờ cõi của mình!

- Không ai cho rằng một cuộc chiến xâm lược được cầm cự trong 17 năm (từ 1858 đến 1885) lại «chứng tỏ sự yếu kém về quân sự của triều đình Huế: không giữ vững được lãnh hải của mình, sức mạnh thủy quân không đáng kể, thậm chí lạc hậu, lục quân cũng vậy ».

Khốn thay, lập luận này, hiện diện trong hầu hết những bài viết về trận Đà Nẵng 1847, được các sử gia Việt Nam chép lại của Pháp, để đồng thanh tố cáo triều đình Huế tội làm «mất nước», luận điểm này dựa trên hai điểm chính:

- Vì cấm đạo nên Pháp phải «can thiệp» để cứu đạo.

- Vì bế quan toả cảng, không giao thiệp với «nước ngoài» nên bị cô lập, phải thua Pháp.

 

Đối với chúng ta, việc quân Pháp đến để cứu đạo hay để xâm lăng, cần phải điều tra lại.

Còn việc triều đình bế quan tỏa cảng là hoàn toàn bịa đặt: triều Nguyễn không hề đóng cửa, tuyệt giao với nước ngoài.

Một trong những người Việt tiên phong tố cáo hai điều đó là ông Nguyễn Trường Tộ (1830-1871), trong các bản điều trần gửi vua Tự Đức: ngoài sự chỉ trích việc cấm đạo, ông còn trách vua không chịu gửi sinh viên sang Pháp, học hỏi cái mới cái tân tiến «của đồng minh».

Những lập luận buộc tội này đều quên hay cố ý lờ đi hai điểm chính:

- Việc cấm đạo, có từ thế kỷ XVII, là để trả lời chính sách của Vatican cấm giáo dân thờ cúng tổ tiên. Mãi đến năm 1939, đạo luật này mới được bãi bỏ. Nếu người Việt biết rõ lý do cấm đạo, thì không một người nào là không đồng ý, bởi vì không người Việt nào chống lại việc  thờ cúng tổ tiên.

- Sự hồn nhiên coi Pháp là «đồng minh», là «bạn», mà người Việt có thể học hỏi được để trở thành «văn minh tân tiến», có phần ngây thơ, khờ khạo, quên hẳn sự thực: Không một kẻ xâm lược nào lại dạy ta học cho giỏi để đánh đuổi họ.

Đó là sự mâu thuẫn lớn nhất trong những lập luận của những người viết sử Việt Nam cận đại, đi đầu là Nguyễn Trường Tộ và Trương Vĩnh Ký (1837-1898).

Lập luận này bao trùm lên việc nghiên cứu lịch sử theo quan điểm của Pháp trong một thế kỷ, tạo ra một lịch sử không đi đôi với sự thực, khởi đi từ khi hai tầu chiến Pháp la Gloire la Victorieuse xâm phạm nước ta, năm 1847, tiêu diệt hạm đội của vua Thiệu Trị.

 

 

 

Trận Đà Nẵng 1847: mượn cớ cứu Giám mục Lefèbvre để tấn công

Sử gia Bùi Quang Tung tìm ra được một số tư liệu mới, đáng chú ý là thư của Đại tá de Lapierre, Tư lệnh Hải quân Pháp ở biển Đông, lên thay Đô đốc Cécille năm 1847, gửi vua Thiệu Trị. De Lapierre còn là người chỉ huy trận đánh Đà Nẵng 1847. Trong thư gửi vua Thiệu Trị, không đề ngày tháng, được giữ trong kho lưu trữ của Bộ ngoại giao Pháp[13], de Lapierre viết:

“Tâu hoàng thượng,

Tôi mới từ Pháp sang, với nhiệm vụ gửi ngay đến Đà Nẵng một tầu trong hạm đội của tôi, để biết kết quả lá thư mà Phó đô đốc Cécille, người tôi vừa thay thế, đã gửi cho hoàng thượng cách đây hai năm qua tiểu hạm Alcmène. Tôi đưa thêm bản sao lá thư này, bằng chữ Xiêm cho Thiếu tá Rigault de Genouilly, thuyền trưởng tầu Victorieuse, cấp tốc đem đến cho ngài hai công văn này. Trong ít bữa nữa, tôi sẽ thân hành đến vịnh để xử lý những vụ việc quan hệ đến các vấn đề ấy.[14]

Theo lời thư trên đây, de Lapierre đến Đà Nẵng để chờ kết quả lá thư mà phó Đô đốc Cécille đã gửi cho vua Thiệu Trị cách đây hai năm, qua tàu Alcmène.

Câu này hoàn toàn giối trá, bởi vì ngày 15-5-1854, Cécille có viết thư cho vua Thiệu Trị, đòi thả Giám mục Lefèbvre, và sai Fornier-Duplan, thuyền trưởng tầu Alcmène, cầm thư này đến Đà Nẵng[15]. Ngay sau khi nhận thư, vua Thiệu Trị đã phóng thích vị Giám mục trong tháng 6 năm 1845 (xem chương 13, Thiệu Trị, phần I); mặc dù lá thư của Cécille lời lẽ trịch thượng, như chúng tôi đã trích dẫn dài rộng trong phần I; ở đây chỉ chép lại vài đoạn chính:

Thư đô đốc Cécille gửi vua Thiệu Trị xin tha Giám mục Lefèbvre:

Singapour, tầu Cléopatre, ngày 15-5-1845,

"Tâu Bệ hạ, tôi được biết, do lệnh của Bệ hạ, Đức Giám mục Lefèbvre đã bị bắt ở Nam kỳ, bị cầm tù trong vương quốc và đạo Thiên chúa lại mới bị tàn sát nữa. [...]

Nhà vua chẳng lẽ đã quên rằng nhờ người công giáo Pháp mà ông tổ Gia Long, anh linh vẻ vang của ngài, đã khôi phục được ngôi báu?..[...]. Chẳng lẽ nhà vua lại thẳng tay hạ lệnh giết từ 5 đến 600.000 thần dân theo đạo không chút sờn lòng [...]

Bệ hạ có thấy chính sách lãnh đạo bị cả chính trị và nhân đạo kết án ấy chỉ có thể do những cố vấn xảo quyệt và ngu dốt đưa ra để chiếm hữu của cải tịch thu của các nạn nhân.[...]

Phải chăng trong khi Hoàng Đế Trung Quốc vừa cho phép thần dân được tự do theo đạo Gia Tô trên đế quốc mênh mông của ông ta, thì đại danh Thiệu Trị lại hạ lệnh truy lùng giáo dân ở nước Nam một cách dã man tàn bạo chỉ thấy ở những dân tộc không biết nghiã cử và văn minh là gì? […]  Học gương Thiên Hoàng mới xứng đáng là một ông vua lớn.[...]

Tôi, nhân danh Tư lệnh Hải quân Pháp, có trách nhiệm bảo vệ đồng bào tôi ở vùng đất này, đòi hỏi nhà vua trả tự do cho Giám mục Lefèbvre... Tôi yêu cầu nhà vua trao Giám mục cho chỉ huy Fornier- Duplan, thuyền trưởng tầu Alcmène, người cầm lá thư này, và bảo đảm trước với nhà vua là hành động khoan hồng này sẽ được Pháp hoàng hết sức tán thành..."[16]

Viết thư cho một vị hoàng đế để xin ân xá cho một người đồng hương của mình với giọng «bề trên răn đe kẻ dưới» và đưa ra những điều hàm hồ như vậy, chứng tỏ sự cao ngạo, miệt thị, cùng trình độ kiến thức và ngoại giao của Cécille, Tư lệnh Hải quân Pháp ở biển Đông. Không biết Đô đốc Cécille dựa vào đâu để đưa ra con số 5 hay 600.000 người công giáo bị vua Thiệu Trị giết? Xin một đặc ân bằng những con số bịa đặt như vậy, làm sao có thể «xin» được? Lá thư của Cécille lời lẽ ngông cuồng, thông tin giối trá, nhưng vua Thiệu Trị vẫn thả Giám mục Lefèbvre, điều này chứng tỏ vua không chấp thái độ vô lễ và thiếu hiểu biết của Tư lệnh Hải quân Pháp ở biển Đông. Những lời lẽ trịch thượng với những thông tin bịa đặt như thế thường thấy trong thư từ của tướng tá Pháp gửi đến triều đình, chính là lý do tại sao các quan giữ cửa biển Đà Nẵng không muốn nhận thư tầu Pháp đem lại, vì nhận thư thì bị tội. 

  

Về việc Giám mục Lefèbvre được tha tháng 6-1845. Auguste Haussman, thương gia người  Pháp, trong cuốn hồi ký Voyage en Chine, Cochinchine, Inde et Malaisie, 1848, (Chuyến đi Trung Hoa, Việt Nam, Ấn Độ và Mã Lai, 1848), đã kể lại như sau (xin trích):

... "Ngày 8-5-1845, chúng tôi ở Singapour. Tại đây, thuyền trưởng tầu Alcmène nhận lệnh đi Đà Nẵng đem thư của Đô đốc Cécille, đã dịch ra Hán văn, xin thả vị giám mục Pháp, Lefèbvre, đang bị giam tại Hué-fou [Thừa Phủ, Huế]... [...]

Ngày 31-5 chúng tôi vào vịnh Đà Nẵng... […]

Ngày 1-6, thuyền trưởng Fornier-Duplan và đoàn tùy tùng xuống tầu đưa thư cho quan sở tại. Vị quan này [Lý Văn Phức] hứa là bức thư sẽ được đưa về triều trong vòng 20 tiếng đồng hồ... Nước Nam dùng người chạy thư...[...]

Ngày 6-6, thuyền trưởng được mời đến hội đàm với vị quan già vừa ở Kinh ra, tại ngôi chùa  gần chỗ tầu đậu, ông đi kiệu sang trọng, đỉnh kiệu hình mai rùa; tay cầm thẻ bài ghi tước vị của ông. Vị quan này báo cho thuyền trưởng biết rằng khi ông trở về Kinh, vị Giám mục Pháp sẽ được tha và dẫn đến Đà Nẵng.

Cùng ngày hôm đó, tàu Alcmène nhận được nhiều quà của vua... Thủy thủ đoàn rất phấn khởi vì sự rộng rãi của vua nước Nam...

... Ngày 12-6 [1845] Giám mục Lefèbvre được vua tha và gửi đến chúng tôi bình an vô sự. Ông đi từ Huế ra Đà Nẵng bằng võng cáng... Đức Giám mục mặc chiếc áo chùng lụa tím, đầu đội nón, chòm râu đen dài. Nét mặt hãy còn trẻ, nhưng đã mang vết phong trần, dáng đi khó khăn, chứng tỏ ông bị xiềng chân; nhưng ông nói trong số những tu sĩ bị bắt, chỉ có ông là không bị đánh roi mây.

Sự trở về của vị chủ giáo trên tầu Alcmène chấm dứt nhiệm vụ của vị thuyền trưởng đã hoàn tất khéo léo và nhanh chóng".[17]

Những lời trên đây của thương gia Auguste Haussman, người Pháp, ghi rõ việc triều đình tha Giám mục Lefèbvre ngày 12-6-1845. Hai năm sau (1847), de Lapierre trở thành Tư lệnh Hải quân Pháp ở biển Đông, thay thế Cécille, không thể không biết việc này, hoặc ít nhất cũng phải đọc hồ sơ về vụ này, thế mà ông ta vẫn mượn cớ đến Đà Nẵng để «giải quyết», với bản sao lá thư lời lẽ ngông cuồng của Cécille viết hai năm trước, dịch ra tiếng Xiêm, thì quả de Lapierre còn vượt Cécille một bực về sự ngoan cố và khinh mạn.

Vì vậy, ta có thể cho rằng: de Lapierre giả vờ không biết vua Thiệu Trị đã tha Giám mục Lefèbvre cách đấy hai năm (tháng 6-1845) và cũng giả vờ không biết cả việc một năm sau, vị Giám mục lại trốn vào Việt Nam và bị bắt lần thứ hai, ngày 8-6-1846, tại cửa sông Sài Gòn, bị kết án tử hình, nhưng vua Thiệu Trị vẫn sai người dẫn độ Giám mục đi Singapour ngày 9-2-1847 (xem kỳ trước).

Sự giả vờ không biết mọi việc đã xẩy ra là một chiến thuật, nên ngày 5-4-1847, hạm đội Pháp do de Lapierre chỉ huy, đi tầu la Gloire, cùng Rigault de Genouilly, đi tầu la Victorieuse, lấy cớ «cứu» Giám mục Lefèbvre, tiến vào Đà Nẵng, tiêu diệt năm tầu chiến bọc đồng của triều đình rồi bỏ đi, không quan tâm gì đến số phận của Lefèbvre, bởi vì de Lapierre thừa biết Giám mục hiện đang ở đâu: ông ta đang sửa soạn rời Singapour ngày 3-5-1847, để trốn vào Việt Nam lần thứ ba. Lần này thành công. Giám mục ở lại bẩy năm.

Những điều này chứng tỏ: Giả vờ không biết là cách hành xử của hạm đội Pháp để tấn công Đại Việt.

Tóm lại, năm 1847, một lực lượng hải quân Pháp, do Trung tá Hải quân de Lapierre[18] chỉ huy, trên chiến hạm la Gloire, với 54 đại bác và Trung tá Rigault de Genouilly hộ vệ, trên tiểu hạm la Victorieuse, 24 đại bác[19] tiến vào Đà Nẵng. Sau khi tiêu diệt 5 tầu chiến bọc đồng của hạm đội Đại Việt đậu trong vịnh Đà Nẵng, de Lapierre đi ngay Macao, nhận nhiệm vụ ở Triều Tiên. Ngày 10-8-1847, cả hai tầu la Gloire và la Victorieuse, đều bị đắm vì chạm đá ngầm ở bờ biển Triều Tiên, nhưng de Lapierre và Rigault de Genouilly được tha bổng trong vụ đắm tầu này.

Mười một năm sau, 1858, Đô đốc Rigault de Genouilly chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp cùng với Đại tá Lanzarotte (Y Pha Nho) trở lại đánh phá Đà Nẵng.

 

 

 

Trận Đà Nẵng 1847, theo thư Giám mục Forcade gửi Hội Thừa Sai

Giám mục Forcade[20] từng hoạt động nhiều năm ở Á Châu. Khi trận Đà Nẵng 1847 xẩy ra, ông làm thông ngôn trên tầu la Gloire cho de Lapierre. Giám mục viết thư về Hội Thừa Sai tường trình trận Đà Nẵng 1847 như sau:

Hồng Hải, ngày 2-6-1847,

Tầu la Gloire đến Đà Nẵng ngày 23-3 [1847]; gặp tầu la Victorieuse, đi từ Macao 5 ngày trước, đã đến nơi ngày 17. Hải quân Trung tá Lapierre chỉ định ông Rigault de Genouilly trao tận tay quan Trấn thủ Quảng Nam một lá thư gửi vua Thiệu Trị xin cho giáo dân. Khi chúng tôi đến nơi, thì mới chỉ tiếp xúc được với những quan lại hạng thấp nhất...

Tư lệnh Lapierre quyết định đánh mạnh, để bắt buộc họ phải chấp nhận điều chúng tôi mong muốn. Năm chiến hạm đẹp của nước Nam, kiến trúc kiểu Tây phương đậu trong vịnh, bất thần bị các ca-nô của chúng tôi bao vây, thủy thủ của chúng tôi xung kích thuyền họ, những kẻ khốn nạn vừa lên thuyền chưa kịp chào hỏi nhau thì toàn bộ cánh buồm của họ đã bị chiếm đoạt, chất trong 2 thuyền buồm nhỏ, đem về cất ở chỗ chắc chắn, giữa hai chiến hạm la Gloire và la Victorieuse. "Các ngươi cứ yên tâm, khi chịu nhận thư ta và có thư trả lời, ta sẽ trả lại". Việc này xẩy ra ngày 30-3 [1847]. Ngày 31, quan Trấn thủ [Lý Văn Phức, Tả Tham tri Bộ Lễ] tới Đà Nẵng, quyết định nhận thư. Ông hứa sẽ có thư trả lời trong vòng mười hay mười hai ngày.

Buổi sáng 12-4 [1847], một viên quan nhỏ lên tầu la Gloire, nói rằng có vị quan lớn vừa đến và mời vị Tư lệnh lên bờ để nhận thư trả lời. Tư lệnh [de Lapierre] đòi phải đem thư xuống  tầu. Hai bên khăng khăng: "Mời xuống tầu" "Không, mời lên bờ". Mấy sĩ quan của chúng tôi đã lên đất liền đi dạo, gặp một thanh niên ra dấu cầu cứu trên một cánh đồng. Anh ta viết vài hàng trên giấy: "Trong bữa tiệc, tất cả sẽ tấn công các ông"[21]. Ngày 13, vào giờ Tư lệnh [hẹn] lên bờ, tưởng rằng nhìn thấy vũ khí được đem đến chất đầy 2 thuyền nhỏ, chở buồm, đá, giáo, súng, kiếm, và thuốc súng. Tất cả đều bị tịch thu ngay lập tức. Người lính thủy tình nguyện của chúng tôi nhìn thấy miếng giấy mà người chủ thuyền muốn giấu anh ta. Bèn giật lấy, thì ra đó là cả một chương trình mưu phản lại chúng tôi: Trong lúc bộ tham mưu đang họp, sẽ có hiệu lệnh -chỉ vì chúng tôi chưa đủ "kính cẩn và phục tòng"- tấn công mọi mặt, phá nát tầu chúng tôi, đánh cho bọn người Âu kinh hoàng để chúng không còn dám bén mảng tới đây.»

Tư lệnh làm một bản sao [tấm giấy bắt được] và ngày 14, ông gửi cho quan khâm sai, đòi giải thích. Đến tối, thư giải thích đến, chẳng có gì thoả đáng, họ vẫn từ chối lên tầu. Vị khâm sai bối rối, tìm cách câu giờ.

Sáng 15 [4-1847] trong khi Tư lệnh đang nghĩ cách trả lời quan khâm sai, thì đài canh trên tầu báo có bốn thuyền lớn (quatre grandes jonques) từ ngoài (biển) dong buồm vào vịnh. Thêm năm chiến hạm [trong vịnh] được chằng giữ thành hàng theo vị trí chiến đấu, ở cửa sông thấy nhiều thuyền buồm, trên đầy người mang vũ khí, đậu ở đó, người ta bảo là để nghênh đón quan đại thần. Hiển nhiên là người ta muốn tấn công chúng tôi, ba mặt một lúc.

Tư lệnh gửi xuống đất liền một viên sĩ quan, kèm theo cờ hoà và thông ngôn; các thuyền buồm được yêu cầu phải rút lui, nếu không chúng tôi sẽ bắn. Không nhận được trả lời. Tuy nhiên, chúng tôi đợi từ 8 giờ đến 11 giờ 10. Các thuyền buồm cứ tiến mãi. Tầu la Gloire bắn trước. Phía Việt đã phòng bị sẵn, có lẽ các quan đã triệt hạ tất cả mọi phương tiện tẩu thoát của lính, nên họ chiến đấu mạnh mẽ hơn chúng tôi tưởng. Tầu của họ, làm bằng thứ gỗ rất cứng, có độ bền bỉ lạ lùng; bị 800 viên đạn đại bác tàn phá trong 70 phút; một chiếc nổ tung, một chiếc bùng cháy, chiếc thứ ba chìm, hai chiếc còn lại ra hàng, sau bị đốt cháy; người bị thương được bác sĩ phẫu thuật của chúng tôi chăm sóc, họ không chờ đợi việc ấy... Tầu la Gloire không có ai chết hay bị thương; đạn chỉ bắn qua đầu chúng tôi, cắt vài dây chão. Tầu la Victorieuse, gần tầm đạn hơn, chỉ bị chết một người mà tôi đã giải tội, và một người bị thương mất một bàn tay và ba bốn nốt bầm nhẹ vì mảnh than rơi vào. Chúng tôi dùng thời giờ còn lại trong ngày ngắm nhìn đám cháy của những chiếc chiến hạm, để khỏi có vẻ như chạy trốn trước những đồn lũy và thuyền buồm [của đối phương]...

Ngày hôm sau, Tư lệnh sai đem một phong bì đến một ngôi chùa. «Đây là bằng chứng của sự kính cẩn và tuân lệnh của bọn Rợ mà «mày muốn đập tan tành; nếu vẫn còn chưa đủ, ta sẽ bồi thêm." Đến trưa, chúng tôi đi.

Tư lệnh Lapierre và ông Rigault de Genouilly gửi tôi về Paris để tường trình việc này với sự tán thành của đức Giám mục Lefèbvre và đức Giám mục Boucho.[22]

Tôi về bằng tầu vụ của Anh với ông Chamaison đem thánh tích của các ông Jaccard và Gagelin. Tôi định đi qua ngả Trieste và Genève, sẽ nhanh hơn ngả Marseille 5, 6 ngày. Ông Lapierre đã dặn tôi làm cách nào để về nhanh nhất." [23]

 

 

 

Nhận xét về những lời của Giám mục Forcade

Cuối thư, Giám mục Forcade viết câu: «Tư lệnh Lapierre và ông Rigault de Genouilly gửi tôi về Paris để tường trình việc này với sự tán thành của đức Giám mục Lefèbvre và đức Giám mục Boucho», cho nên lá thư này có thể coi là thư của Giám mục Forcade biện hộ cho phe quân đội và phe thừa sai. Theo lời Giám mục Forcade, tiến trình trận đánh, xẩy ra như sau:

Ngày 23-3-1847 tàu la Gloire do de Lapierre điều khiển tới Đà Nẵng gặp tàu la Victorieuse do Rigault de Genouilly quản lý, đã đến vịnh từ sáu ngày trước (17-3). De Lapierre sai Rigault de Genouilly trao tận tay quan Trấn thủ Quảng Nam một lá thư gửi vua Thiệu Trị, nhưng de Genouilly chỉ mới tiếp xúc được với các quan hạng thấp.

(Theo luật triều đình: Chỉ sứ giả đem thư Quốc trưởng của nước họ mới được đưa đến Huế để dâng thư cho vua. Còn các thư từ khác, phải thông qua các quan, thường là quan Khâm sai, từ triều đình ra, nhận thư rồi mang về Kinh. Một mặt khác, thư, từ tầu Pháp đem đến (bắt buộc phải dịch sang chữ nho) giọng thường kiêu căng, hách dịch và đưa những thông tin dối trá (đại để như thư của Đô đốc Cécille gửi vua Thiệu Trị, đã trình bày kỳ trước), nên quan Khâm sai khi nhận lá thư như thế, sẽ bị triều đình khiển trách, bị bắt tù vì tội làm nhục quốc thể. Vì vậy mà có sự dè dặt, không ai muốn nhận thư của tầu Pháp).

Ngày 30-3-1847, Tư lệnh Lapierre quyết định đánh mạnh, để bắt buộc phiá Việt Nam phải nhận thư của de Lapierre viết cho vua Thiệu Trị. (Lá thư này giọng tương đối lễ phép).

Ngày 30-3, trong lúc hai bên đang «thương lượng» về việc nhận thư, thì de Lapierre «quyết định đánh mạnh», bằng cách cho hạm đội Pháp bao vây năm tầu chiến bọc đồng của Việt Nam, cướp toàn bộ dụng cụ và vũ khí trên tầu, với lời đe dọa: «nhận thư thì sẽ trả lại».

Ngày 31-3-1847, Lý Văn Phức, Tả tham tri bộ Lễ, từ triều ra để nhận thư, hẹn độ 10 hay 12 ngày sẽ có thư trả lời.

Ngày 12-4-1847, có thư trả lời, các quan muốn vị thuyền trưởng Pháp lên đất liền nhận thư. De Lapierre đòi đem thư xuống tầu. Hôm sau, «Ngày 13, [tháng 4-1847] vào giờ Tư lệnh [hẹn] lên đất liền, người ta tưởng nhìn thấy vũ khí được đem đến chất đầy 2 thuyền nhỏ, chở buồm, đá, giáo, súng, kiếm, và thuốc súng. Tất cả đều bị tịch thu ngay lập tức.»[24]

Câu này muốn nói: Khi viên Tư lệnh sắp lên đất liền, quân Pháp tưởng rằng nhìn thấy (on crut s'apercevoir que) quân Việt đem vũ khí chất đầy hai thuyền nhỏ chở buồm, đá, vv... liền đến tịch thu tất cả.

Đây là một hành động quái lạ: Đến nước người, mới tưởng trông thấy chứ không phải đã trông thấy việc người ta chuyển vũ khí xuống thuyền, liền đến tịch thu vũ khí của người ta: Hành động «côn đồ» này được Giám mục Forcade ghi lại như một việc tự nhiên.

Rồi Giám mục kể tiếp: Một người lính thủy Pháp, giật được mảnh giấy ở tay người lái thuyền Việt, trong đó có «cả một chương trình mưu phản chúng tôi»: trong lúc Bộ tham mưu Pháp đang họp thì bên Việt sẽ  tấn công tiêu diệt cả hạm đội Pháp.

Một lá thư quan trọng như thế, lại nằm trong tay một kẻ lái thuyền, y lại hớ hênh để cho một người lính Pháp nhìn thấy, và anh lính này lại biết ngay nội dung, nên đã cướp giật. Ba sự tình cờ một lúc như thế, kể cũng lạ lùng.

Rồi như để cho việc cướp giật có «trọng lượng» hơn, Giám mục Cuénot còn kể thêm rằng: «cuộc khủng bố» đã được tổ chức trên đất liền. Ông viết: "Theo lời đồn của dư luận, người ta đã nhân danh vua, mời các sĩ quan Pháp đến dự một bữa ăn với lời hứa là sau tiệc sẽ đọc thư trả lời của nhà vua. Trong bữa ăn, các sĩ quan sẽ bị trói gô lại, bắt trọn ổ mà không tốn công. Vì vị Tư lệnh không chịu lên bờ, nên người ta muốn đốt cháy hai tầu bằng những cái bè chở rơm và tre".

Toàn một loại thông tin «tưởng nhìn thấy» hoặc «theo lời đồn của dư luận», thì làm sao tin được?

Chưa hết, mười năm sau, tại Paris ngày 16-5-1857, Giám mục Pellerin, khai trước Ủy ban nước Nam (Commission de la Cochinchine) còn đưa thêm một chi tiết mới: "dưới phòng tiệc mà các sĩ quan Pháp được mời, đã đào hố sẵn, họ sẽ bị sập xuống và bị giết hết." (sous la salle du banquet auquel les officiers français avaient été priés, on avait creusé une fosse, dans laquelle ils devaient tomber et être massacrés.»[25]

Tất cả những câu chuyện ly kỳ này, được các vị Giám mục viết ra, theo lời người ta tưởng đã nhìn thấy hoặc theo lời đồn của dư luận, chỉ có nghiã là các vị đầu mục này đã chép lại những lời đồn này để biện hộ cho de Lapierre, trong cuộc tấn công Đà Nẵng năm 1847.

Dưới đây là thư của một thương gia người Pháp, với những ý kiến độc lập, không lệ thuộc chính quyền và cũng không chịu ảnh hưởng của các vị thừa sai.

 

 

 

Trận Đà Nẵng 1847, theo thương gia Géraud, người Bordeaux

Thư của Ch. Géraud gửi ông Bộ trưởng Canh nông và Thương mại.

Paris[26]

"Ngày 25-3 vừa qua [1848], từ Aden[27] tôi báo tin cho vị tiền nhiệm của ông việc tôi đi nước Nam. [Trong thư] tôi nói đến những phương tiện mà tôi cho là dễ dàng để nối lại quan hệ với nước Nam, đã bị cắt đứt vì tiếng đại bác của tầu La Gloire. Hôm nay, tôi nghĩ có bổn phận phải tường trình với ông về những ngày tôi vừa trải qua ở Đà Nẵng, về cách xử sự lạ lùng của chúng ta ở vịnh này, và thông báo cho ông biết cảm tưởng của tôi về những phương tiện phải dùng để ràng buộc người nước Nam với chúng ta, và có thể chiếm được lòng tin của họ, việc mà người Anh đang theo đuổi và sẽ đạt được, nhờ sự bền chí và sức quyến rũ trong cá tánh người Anh.[28]

Ông đã biết rõ nguyên nhân cuộc tranh chấp, theo bản báo cáo của ông Lapierre, là vì vua nước Nam từ chối trả lời trực tiếp lá thư của một đô đốc, mà luật ở nước này, vua chỉ trả lời thư của vua nước khác. Nhưng có lẽ người ta đã không nói với ông rằng bản dịch những giấy tờ tịch thu được hay trực tiếp đưa lên tầu, là sai lầm hay bịa đặt. Không có gì chứng tỏ, người nước Nam, một dân tộc hiền hoà, vô hại, lại có những hành động điên cuồng mà người ta nghi họ làm, với giả thiết rằng những chiếc tầu khốn nạn kia, chỉ trang bị sơ sài vài cỗ súng không dùng được, với những lính tráng và thủy thủ tùy ứng (improvisés), mà dám tấn công hai chiến hạm lớn, việc còn đáng tiếc đến nay. Tôi được biết, qua một ông quan trong triều, rằng bản văn, bắt được ở tên gián điệp, là bản quân lệnh gửi cho tất cả những người điều khiển đồn luỹ, được lệnh tiêu diệt hai tầu chiến nếu họ nổ súng trước, chứ không phải, như người ta nói, là một cuộc âm mưu tiêu diệt toàn bộ chỉ huy của ta. Nhưng người ta dễ thấy rằng lệnh này, cũng như phương tiện tiêu diệt, chỉ là chuyện ngoa ngữ hoa lá kiểu phương Đông, một sự nói quá mà ta thấy ngay khi nhìn thấy tình trạng đồn luỹ và buồm mảng mà chúng ta đã cẩn thận chiếm trước của địch, biện pháp này, theo ý tôi, thiếu ngoại giao để đạt được điều mong muốn. Ngoài ra, lá thư [bắt được] này, có khoa trương và kiêu hãnh đến đâu, thì có đáng giá phải tiêu huỷ năm cái tầu và giết 10.000 người, đã không thể, trong tình trạng tuyệt vọng của họ, chỉ giết được một người lính của ta?

Tôi đến Đà Nẵng với ông Borel, bạn của người Việt, và của thương điếm của họ ở Batavia, từ nhiều năm nay. […] Thưa ông Bộ trưởng, nhờ sự giúp đỡ mạnh cánh của ông Borel, ta có thể lấy lại vị trí ở nước Nam mà ta đã đánh mất. Ông ta hứa sẽ dàn xếp tất cả nếu ông Bộ trưởng cho phép ông ta xoay sở bằng những phương tiện hòa dịu, sự mềm dẻo và thuyết phục...”[29]

Lá thư của thương gia Géraud trên đây có những điểm đáng tin cậy. Ông xác nhận việc cướp buồm và khí giới của tầu Việt là một cách xử sự lạ lùng. Ông giải thích việc vua chỉ trả lời thư của vua nước khác, chứ không trả lời thư của bất cứ ai. Ông cho rằng mảnh giấy bắt được,  là bản quân lệnh gửi cho tất cả những người điều khiển đồn luỹ, lệnh tiêu diệt hai tầu chiến nếu họ nổ súng trước, chứ không phải, như người ta nói, là một cuộc âm mưu tiêu diệt toàn bộ chỉ huy của Pháp, điều này đi đôi với sự tường trình trong Đại Nam Thực Lục.

Cuối cùng Géraud đưa ra con số 10.000 người lính Việt thiệt mạng trong trận đánh này, phiá Pháp chỉ có một. Đại Nam Thực Lục ghi: “Biền binh chết hơn 40 người, bị thương hơn 90 người, còn 104 người không biết trôi dạt đi đâu”[30]. Hai ghi chép hoàn toàn khác nhau, có thể vì phía Việt Nam muốn thu nhỏ sự thất bại chăng?

Tuy nhiên sự phẫn nộ của vua Thiệu Trị, đưa đến cái chết của vua bẩy tháng sau đó, chứng tỏ sự mất mát phải là cực lớn.

 

 

 

Trận Đà Nẵng 1847, theo Jurien de la Gravière

Jurien de la Gravière, Tư lệnh Thủy quân Đông Dương, người kế vị de Lapierre, tác giả cuốn Voyage de la corvette La Bayonnaise dans la mer de Chine (Chuyến đi của tiểu hạm dẫn đường La Bayonnais ở biển Đông) viết về trận Đà Nẵng 15-4-1847, như sau:

"Tháng 3 năm 1847, Đô đốc Cécille ủy thác chức Tư lệnh Thủy quân Đông Dương cho Đại tá hải quân Lapierre, với trách nhiệm đến Đà Nẵng để giải thoát đức Giám mục Lefèbvre, mà ông rất tiếc không thể đích thân làm được -ông không biết là đức Giám mục đã được Thiệu Trị vừa thả- và đòi quyền tự do truyền giáo theo gương nước Tầu vừa thi hành mới đây. Lapierre đến Đà Nẵng ngày 23-3, trên chiến hạm la Gloire, trang bị 54 đại bác; tiểu hạm Victoirieuse đi trước mở đường, với 24 đại bác, do Thiếu tá Rigault de Genouilly điều khiển.

Lapierre đã ép các quan nhận thư ông đem đến bằng một cách hơi kỳ (un procédé un peu recommandable) (tịch thu buồm của 5 tiểu hạm của nước Nam đậu trong vịnh). Mỗi bên đều nghi sẽ bị bên kia tấn công. Kế đến có sự hiểu lầm lớn, đầu độc không khí đôi bên, đưa đến  một trận chiến đàng hoàng (bataille en règle), ngày 15-4, trong đó 2 chiến hạm Pháp tiêu diệt 5 tầu Việt. Được tin về cuộc giao tranh này, Thiệu Trị nổi giận đùng đùng: ra lệnh đập vỡ tất cả đồ vật Tây phương trong cung, sôi sục khởi động các vũ khí phòng thủ và tuyên cáo 4 dụ cấm đạo trong những tháng kế tiếp.

Vì không có được nguyên bản mệnh lệnh [tấn công] của quân Việt, mà quân Pháp bắt được, chính vì văn bản này, qua việc dịch hoặc đoán, đã gây sự hiểu lầm, nên rất khó biết nếu các quan có thực sự phản trắc gài bẫy trên bộ, mời các sĩ quan Pháp đến dự tiệc rồi giết đi, hay không. Thoại về cuộc chiến, phía Pháp hoàn toàn khác thoại Việt. Chúng ta sẽ thấy dưới đây, một thoại của  Giám mục Forcade, và một của ông Géraud thương gia Bordeaux, đã đến đây vài tháng sau khi xẩy ra vụ việc và được các quan tâm sự lại.

Dù sao chăng nữa thì cuộc chiến này cũng thật đáng tiếc, không chỉ vì số nhân mạng thiệt hại lớn, mà vì nó làm chấm dứt diễn biến tốt lành trong cung cách của triều đình Huế: chỉ trục xuất chứ không hành hình các giáo sĩ bị bắt; chính sách khoan hoà của triều đình đối với giáo dân (Ngày 3-5-1847, Giám Mục Cuénot viết: "Chúng tôi tưởng như đang ở trước thềm hoà bình". Thiệu Trị đã có ý định gửi thẳng tầu trực tiếp sang buôn bán với Âu Châu. Biến cố Tourane đã dứt khoát và tàn nhẫn đảo ngược khuynh hướng này (L'affaire de Tourane renversa brutalement et définitivement cette tendance)...

Ngay sau khi trận chiến chấm dứt, Lapierre, với sự vội vã xét là thái quá, rút lui, chẳng cần đếm xiả đến số phận của Giám mục Lefèbvre. Thay vì đến Huế, theo yêu cầu của các giáo sĩ, để thương lượng việc đạo, ông ta lại trở về Macao, nhận lệnh khác của Cécille, là đi Triều Tiên để nhận thư trả lời lá thư của Cécille đề đạt với nước này năm 1846, đòi sự an toàn cho các giáo sĩ. Hai tầu la Gloire và la Victorieuse song hành, ngày 10-8-1847 cùng vấp phải đá ngầm ở bờ biển Triều Tiên, chỗ mà những bản đồ Anh giả định là sâu, và đều bị đắm, không cứu được.

Lapierre đã bất chấp lệnh, chỉ được can thiệp, xin cho các giáo sĩ bằng đường ngoại giao, không được nổ súng. Lo ngại việc chính quyền biết tin về trận chiến, Lapierre gửi ngay Đức Giám mục Forcade, đem bản báo cáo biện minh về Pháp. Dường như trong khi đi đường, vị chủ giáo, có nói lời bất cẩn, nhưng ông cũng đã hết lòng biện hộ cho Lapierre trước vua Louis- Philippe, Hoàng hậu, Hoàng tử Joinville, Quận công Aumale và nhiều dân biểu cùng với các đồng liêu có thế lực. Mặc những lời phê phán gắt gao của một vài tờ báo, Giám mục cũng xin được cho Lapierre chỉ bị khiển trách, mà không bị gọi về. Sau nhiều năm thất sủng, Lapierre cũng được lên tướng.

Trận Đà Nẵng có hậu quả là hầu như toàn diện mối quan hệ Pháp-Việt, trong nhiều năm, bị gián đoạn".[31]

Jurien de la Gravière đã tổng kết những thông tin thu lượm được về phiá Pháp, để viết bản tường trình khá đúng đắn trên đây của ông.

 

 

   

Đại Nam Thực Lục

Theo Đại Nam Thực Lục, trận chiến xẩy ra như sau:

Tháng 3-1847:

Năm Đinh Mùi, mùa xuân, tháng 2 (tức tháng 3-1847), không ghi rõ ngày:

"Có 2 chiếc quân thuyền của nước Phật Tây Lan [Pháp] đậu ở cửa biển Đà Nẵng, có "5- 6 người đạo trưởng công nhiên đeo chữ "thập", đi lại nơi cửa biển". Quan tỉnh Quảng Nam xét ra, chúng đến đó có ý kiêu ngạo, đem việc phi tấu lên. Vua sai Tả Tham tri bộ lễ là Lý Văn Phức đến ngay, làm Tác vi đại viên tỉnh Quảng Nam hội đồng với tuần phủ Nguyễn Đình Tân, Lãnh binh Nguyễn Đức Chung tuỳ biện đối đáp. […] Khi Phức đã đến cửa biển, bọn Tây dương định ngày cùng hội với nhau.

Đến ngày, đầu mục Tây dương là Lạp Biệt Nhĩ [Lapierre] đem vài mươi tên đồ đảng, đeo gươm, đeo súng, đến thẳng ngay công quán[32] ngăn lại không được. Chúng đưa ra một lá thư của nước chúng bằng chữ Hán, lời lẽ phần nhiều ngông càn. Phức không chịu tiếp nhận, đầu mục Tây dương quát to để dọa nạt, đặt lá thư lên trên ghế rồi đi.

Phức và Đình Tân bàn với nhau rằng: "Nhận lấy thư là có tội, mà đốt thư đi cũng có tội, không gì bằng cho chạy trạm về đệ tâu lên". Phức cũng về kinh để đợi tội. Vua giận là làm mất quốc thể, sai vệ cẩm y đóng gông đem giam ở Tả đãi lậu, bắt giải chức, giao cho đình thần bàn.

Khi Phức đã đi [khỏi cửa biển] bọn Tây dương lại càng rông càn, ngày thường lên bờ, đi lại chỗ làng xóm. Những người nước ta vẫn theo tả đạo, phần nhiều đi lại nom dòm, thông tin tức kín. Những thuyền quân đi tuần biển bị chúng bắt giữ lại ở cửa biển. Có 5 chiếc thuyền bọc đồng ở Kinh phái đi Nam (Kim Ưng, Phấn Bằng, Linh Phượng, Thọ Hạc, Vân Bằng) chưa ra biển, còn đậu lại ở vụng Trà Sơn cùng đối diện với thuyền Tây Dương, cũng bị chúng sấn đến cướp lấy buồm thuyền và dây buộc thuyền. Những người trông coi các hiệu thuyền là thự[33]Phó vệ uý Lê Văn Pháp, Suất đội Nguyễn Tri, Nguyễn Quyến, Nguyễn Hy, Lê Tần, đều bỏ neo giữ chặt, báo đến Kinh.

Vua ngự điện Vũ Hiển, sai ngay Đô thống Hữu quân Mai Công Ngôn, Tham tri bộ Hộ Đào Trí Phú đem biền binh 3 vệ Vũ Lâm, Hổ Oai, Hùng Nhuệ, đều đến ngay chỗ cửa biển; từ Tuần Phủ trở xuống phải theo lệnh của Mai Công Ngôn"[34]

Vua sai tổ chức lại hệ thống phòng thủ Đà Nẵng, truyền lệnh cho Mai Công Ngôn và Đào Trí Phú rằng:

«Người Tây dương nếu đã sợ uy, thu hình, thì ta không nên động thủ trước; nếu chúng sinh chuyện trước, thì đốc sức thành đài cùng biền binh các hiệu thuyền và thuyền đồng do Kinh phái đi, ngoài hợp, trong ứng, lập tức đánh giết không để sót mống nào. Những nơi ven vụng thuyền, phải nghiêm gia phòng thủ, không cho tự tiện vào thôn dã, lại nghiêm cấm những người theo đạo Gia Tô ở hạt sở tại, không được đi lại dòm ngó để tuyệt tăm hơi».

Lại bảo đại thần viện Cơ Mật rằng:"Thuyền Tây dương đến đây có ý gì? Bọn Mai Công Ngôn đi chuyến này, các ngươi liệu xem ra thế nào?". Trương Đăng Quế thưa rằng: "Người  Tây dương sở cầu, chẳng qua chỉ được thông thương mà bỏ điều cấm [đạo] mà thôi, không có lẽ chỉ có 2 cái thuyền mà dám từ xa đến gây việc, Đào Trí Phú quen biết man tình, cùng chúng đối đáp, tưởng cũng không phải dùng đến quân. Nếu chúng sinh chuyện ra trước, thì chúng trái, ta phải tiêu diệt cũng không khó gì". Hà Duy Phiên thưa rằng: "Thuyền của Tây di không đáng lo, duy có thuyền đồng của ta đóng chặt ở nơi vụng thuyền, chỗ ấy là phải để tâm lo nghĩ". Vua nói rằng:" Nguyễn Đình Tân không nắm vững được tình hình, trong bụng vẫn run sợ, tuy lời tâu không khỏi hoang mang, nhưng không thể không phòng bị được".[35]

Tháng 4-1847

Mùa xuân, tháng ba, năm Đinh Mùi (tháng 4-1847), không ghi rõ ngày:

"Từ khi Mai Công Ngôn đến cửa biển, bố trí quân thuỷ, quân lục để làm cái thế dựa nhau. Quân dung rất lộng lẫy. Người Tây dương chực muốn lên bờ, bị biền binh ở thuyền Phấn Bằng ngăn lại; người Tây dương biết là không có thể xâm phạm được, lại về chỗ đỗ thuyền trước.[...]

Bọn Công Ngôn mặt ngoài thân thiện với người Tây dương [nhưng bề trong] mật lệnh cho các quân định ngày hội đánh. Có một tên tiểu biền [quan võ hạng thấp] Vũ Văn Điểm bị bọn Tây dương bắt được. Chúng tìm được bản ước thúc của quân cơ [lệnh cơ mật về quân sự] vì thế hiểu ngầm tình trạng trong quân thứ. Gặp ngay thuyền ở Kinh chạy đến ngoài biển, người Tây dương đến ngay chỗ quân Đào Trí Phú, giả cách xin hoà, Trí Phú cũng tin, đóng quân không hành động gì.

Đến ngày hôm sau, giờ Ngọ, bọn Tây dương tự nhiên nổ súng ầm ỹ, dồn bắn cả vào thuyền quan. Quan quân giở tay không kịp, 5 chiếc thuyền đồng chốc lát đều bị đắm mà vỡ cả. Lãnh binh Nguyễn Đức Chung, Hiệp quản Lý Điển đều chết ở trận, biền binh chết hơn 40 người, bị thương hơn 90 người, còn 104 người không biết trôi dạt đi đâu; súng và khí giới chìm mất rất nhiều (10 cỗ súng Chu Y bằng gang, 3 cỗ súng Chấn Hải bằng gang, 15 cỗ súng Quá Sơn bằng đồng, các khí giới chìm mất rất nhiều). Hôm sau thuyền Tây dương giương buồm chạy đi. Không có một người nào đuổi theo![36]

 

 

 

Vua điều tra sự việc

Trước hết, xin sơ lược nhắc lại lời tường thuật của Giám mục Forcade (đã ghi ở trên):

«Tư lệnh Lapierre quyết định đánh mạnh... Năm chiến hạm đẹp của nước Nam, kiến trúc kiểu Tây phương đậu trong vịnh, bất thần bị các ca-nô của chúng tôi bao vây, thủy thủ của chúng tôi xung kích thuyền họ […] những kẻ khốn nạn vừa lên thuyền chưa kịp chào hỏi nhau thì toàn bộ cánh buồm của họ đã bị chiếm đoạt […] Tầu la Gloire bắn trước. Phía Việt đã phòng bị sẵn, có lẽ các quan đã triệt hạ tất cả mọi phương tiện tẩu thoát của lính, nên họ chiến đấu mạnh mẽ hơn chúng tôi tưởng. Tầu của họ, làm bằng thứ gỗ rất cứng, có độ bền bỉ lạ lùng; bị 800 viên đạn đại bác tàn phá trong 70 phút; một chiếc nổ tung, một chiếc bùng cháy, chiếc thứ ba chìm, hai chiếc còn lại ra hàng, sau bị đốt cháy».

Thua trận, vì những lý do: de Lapierre tấn công bất ngờ, quân Việt không kịp trở tay, nhất là lần đầu họ phải đối diện với khí giới tối tân, và người lính da trắng cao lớn mà người lính Việt chưa nhìn thấy bao giờ, nên dễ bị tê liệt, có người bỏ chạy.

Vua phạt những người hèn yếu và thưởng những người can đảm liều mình:

«Việc đến tai vua. Vua than thở rằng: "5 chiếc thuyền đồng lại bị giặc Tây dương bắn, không ngờ quan quân lại hèn yếu đến như thế, đáng tiếc lắm, bọn Công Ngôn không nghiêm luật để đến tiết lộ quân cơ, là một tội; sau khi đã lỡ việc, không đốc thúc quan quân hết sức mà đánh, dùng các súng to ở thành đài, đánh dữ giết giặc để giải lòng công phẫn, thế là hai tội; thuyền giặc trốn đi rồi mà hai pháo đài Phòng Hải, Định Hải lặng yên, không bắn một phát nào để chặn đường đi của giặc, thế là ba tội!

Lập tức sai Biện lý bộ Công là Vương Hữu Quang, Cấp sự trung là Trần Gia đi ngay thuyền đến để tra hỏi, biết hết những tình trạng điều khiển thất sách và biền binh nhút nhát. Vũ Văn Điểm phải chém bêu đầu, Lê Văn Pháp, Nguyễn Tri, Nguyễn Quyến, Nguyễn Hi, Lê Tần đều phải trảm giam hậu, thự lãnh binh Nguyễn Đức Tập phải phát vãng [đầy] đi nơi thành tấn [nơi hiểm độc] để ra sức làm việc chuộc tội, Phó vệ úy Tôn Thất Năng, Thành thủ uý Vũ Lực, Nguyễn Liêu bị cách chức, phát về ty Hộ vệ, ra sức làm việc. Mai Công Ngôn giáng xuống chức Chưởng vệ; Đào Trí Phú giáng xuống chức Lang trung; Lý Văn Phức Nguyễn Đình Tân đều cách chức, phát đi làm quân ở dinh Kỳ võ. »

Những người can đảm hy sinh được truy tặng :

«Nguyễn Đức Chung tặng Chưởng vệ, cấp tuất 30 lạng bạc, lại cho ấm [con quan được vua gia ân] một người con làm Cẩm y thiên hộ; Lý Điển được truy tặng Phó vệ uý thuộc Thuỷ sư, cấp cho 20 lạng bạc, lại ấm cho một con làm Cẩm y bá hộ; 5 người suất đội, đội trưởng, đều truy tặng và cấp bạc cho có khác nhau; binh đinh [lính] thì chiếu lệ cấp tuất [trợ giúp gia đình người lính tử trận], lại tha cho một người con hoặc một người cháu không phải bắt lính; đến ban tế một đàn ở bãi biển. Người bị thương thì cấp cho tiền. Tả vệ uý dinh Thần cơ là Tôn Thất Chu rồi chết vì bị thương, tặng cho hàm Vệ úy».[37]

 

 

Nỗi hoang mang sau khi thua trận

Mười ngàn lính hy sinh và năm tầu chiến bọc đồng Kim Ưng, Phấn Bằng, Linh Phượng, Thọ Hạc, Vân Bằng, bị tiêu diệt đã gây tổn thương lớn khiến vua Thiệu Trị hoang mang, lo ngại:  

«Từ sau khi cửa biển Đà Nẵng bị lỡ việc, vua rất tức giận, bụng thường không vui. Một đêm, đến chơi Duyệt Thị đường. Quản lĩnh thị vệ Nguyễn Trọng Tính, Hiệp lĩnh Vũ Văn Trí đều mải ngủ quên mất; phạt Trí 80 trượng, giáng Tính một cấp. Lại hỏi việc tu bổ thuyền bè, Viên ngoại lang bộ Công đương trực là Dương Văn Trinh không thưa lại được, sai đánh đau 100 trượng. Các bề tôi là Vũ Phạm Khải phiếu nghĩ [trù tính công việc] không hợp ý chỉ, sai Hình bộ tham tri Bùi Quỹ truyền Chỉ đánh 40 roi, một lát lại tha. Dụ rằng: "Tạm để gọi tỉnh [xem xét rõ] đó thôi!" Thuộc viên Nội các là Nguyễn Văn Siêu vì làm phiếu lầm lời nói trong Chỉ dụ, phạt 80 trượng.

Thường khi rỗi việc, xa giá đến đình Doãn Vũ, diễn tập bắn súng. Sai các quân bó cỏ vào làm hình người Tây dương, ai bắn trúng thì thưởng cho kim tiền, ngân tiền.

Vua đương triều, hỏi đại thần viện Cơ Mật ở trước mặt rằng: "Thuyền Tây dương đến đây, chỉ cần có hai việc là bỏ cấm đạo và thông thương mà thôi. Thông thương thì được, cấm [đạo] có thể bỏ được không?" Trương Đăng Quế thưa rằng: "Chúng đã sinh chuyện ra trước, không thể lại mong khoan điển [khoan hồng]!". Vua nói: "Người Tây dương lòng vốn giảo trá, nếu [bỏ] cấm [đạo] thì Anh Cát Lợi nghe thấy, cũng sẽ cầu xin bỏ cấm thuốc phiện. Nhung Địch [Quân địch] là giống sài lang, không thể thỏa mãn nó được! Làm thế nào mà việc gì cũng theo gượng như chúng sở cầu? Vả lại, đạo Gia Tô là tà giáo, cái hại rồi đến bới chuyện ngoài biên, mở đường chinh chiến. Thuốc phiện là thứ thuốc mê, cài hại rồi đến khuynh gia bại sản, hại tính mệnh người. Hai việc ấy đều là điều nghiêm cấm ở trong nước, ta sẽ giáng dụ để vào quốc sử truyền lại đời sau, để nghiêm tuyệt xa đi mà ngăn chặn mối lo ở ngoài". Lại bảo các đại thần rằng: "Tây dương vốn không phải một nước. Thí dụ như nước Phật Lan Tây [Pháp], từ trước đến nay cũng chưa nghe thấy có cái tên Tây dương ấy, xem thư của chúng đưa đến, đã không phải tự quốc vương ra, mà hiệu cờ cũng là cờ mới chế, hay là chúng tự lập ra bộ lạc, cũng chưa thể biết được. Vả lại, người nước Phú Lãng Sa [Pháp] từ trước đến nay có phạm cấm, nhiều lần đã được tha cho về, y đáng ơn ta, có thất vọng gì mà sinh ra ý khác. Việc đó hãy đợi thuyền quan phái ra biển về, để hỏi xem tình ý của chúng thế nào. Nếu bọn Nhung địch quả sinh bụng dạ gì, thì tỉnh Gia Định và Hải Phòng cũng là chỗ quan yếu, không riêng Đà Nẵng mà thôi!"[38]

Trích đoạn trên đây cho thấy:

1- Vua rất buồn bực, lo ngại, cố gắng tổ chức lại việc phòng thủ bờ cõi.

2- Trong triều bàn bạc: Hai mối hại lớn là Pháp và Anh, đều «là giống sài lang» (một bên chủ trương xâm lăng, một bên chủ trương đem thuốc phiện vào bán), vậy phải ứng xử thế nào để chúng không ganh tỵ nhau, nước Pháp đã có những giáo sĩ vào lậu, bị bắt, đã được vua thả ra nhiều lần, nhưng vẫn ngoan cố mượn cớ cứu giáo sĩ để vào xâm lấn.

3- Triều đình chưa có khái niệm rõ rệt về các nước Anh, Pháp ở châu Âu, tưởng đó là những «bộ lạc», bởi vì cờ quạt của các chiến hạm Tây phương đến vịnh Đà Nẵng rất khác nhau (cờ quốc gia, cờ hạm đội, cờ mỗi tầu chiến, riêng biệt...)

4- Cách hành xử của họ ở cửa biển, những lá thư vô lễ, lời lẽ bịa đặt, xác định bản chất của người Pháp (và người Âu) trước mắt triều đình, nhất là từ sau trận Đà Nẵng 1847: cướp buồm và khí giới, đánh lén, rồi chạy. Cho nên, triều đình coi họ là những «bộ lạc dã man» không biết phép xử sự chính đáng của con người.

Việc thua trận này không thể coi là một trận đánh «đàng hoàng», hai bên giao chiến. Quân Pháp dùng một chiến thuật tráo trở, để thắng, khiến họ trở thành «bọn man di» như giặc biển, dưới mắt các quan nho học, tôn trọng đạo đức thánh hiền.

 

 

 

Tổ chức phòng vệ

Đại Nam Thực Lục ghi:

"Lấy: Chưởng vệ Tân Lộc tử Mai Công Ngôn thự Tổng đốc Nam-Ngãi, Lang trung  Đào Trí Phú, thự Bố chính Quảng Nam; Phó vệ úy Nhị Hữu bảo Mai Điền đổi bổ Phó vệ úy vệ Cấm binh, gia hàm Lãnh binh tỉnh Quảng Nam, quản chiếu thành đài quân Thủy sư và công việc đồn cửa Đà Nẵng. Nhân sai bọn Mai Công Ngôn đốc đồng [cùng cai quản] với Phó vệ úy vệ Trung dinh Thần cơ là Nguyễn Quý, thự Lang trung bộ Binh là Vũ Duy Ninh xem xét chỗ vụng Trà Sơn, chỗ nào nên dựng pháo đài, lũy đài đặt cỗ súng, mà có thể chế ngự được bọn Tây dương, thì nhất nhất vẽ thành bản đồ, nói cho minh bạch, gián kín lại. Đến khi bản đồ  dâng lên, vua bảo Bộ binh rằng:"Cửa biển Đà Nẵng là nơi thuyền Tây dương ra vào, việc phòng bị rất phải nghiêm mật. Nếu đắp một cái lũy dài ở vụng Trà Sơn, chỉ tốn công không, không gì bằng đặt nhiều núi đất để tiện việc bắn súng là đắc sách. Vả lại, như trước kia, thuyền Tây dương trốn đi, pháo đài phòng mặt biển cách nhau không xa gì, nếu cho thêm thuốc súng vào mà bắn, há không bắn trúng được một phát? Thế mà bọn Mai Công Ngôn mật trát cho các pháo đài, chôn giấu thuốc súng, đến nỗi lâm thời không kịp bắn được một phát nào, để lỡ mất cơ hội ấy, rất đáng tiếc!" [39]

 

Mùa hạ, tháng 4, năm Đinh Mùi (tháng 5-1847)

"Đặt 7 đồn Trấn dương [chống quân Tây dương] ở ven biển tỉnh Quảng Nam. Từ khi người Tây Dương gây chuyện, vua chú ý đến việc phòng thủ mặt biển, sai quan tỉnh Quảng Nam là bọn Mai Công Ngôn xem xét tình thế chỗ vụng Trà Sơn, đặt thêm nữ tường ở đài thành, khém[40] bắn súng ở pháo đài, lại ở tả hữu nơi Diên Chủy và Trà Sơn, xây dựng 7 đồn (...) đặt tên là đồn Trấn Dương". Vua cho lệnh đúc thêm súng và chế tạo các thứ vũ khí, đề phòng mặt biển, chôn giấu vũ khí, và chế tạo các loại địa lôi:

"Lại thông dụ cho các địa phương rằng: "Nước Phật Tây Lan [Pháp] mọi rợ, ngông cuồng, tội không đáng khoan xá, nếu chúng lại đến, không cứ là thuyền buồm hay thuyền quân, các phận cửa biển nơi sở tại lập tức phải đuổi đi, không được cho chúng bỏ neo. Tựu trung tỉnh Gia Định là một trấn lớn ở Nam Kỳ, xa tiếp với cương giới nước Mên, gần tới biển lớn; các cửa biển nơi ngã ba như Cần Giờ, Phú Mỹ, cùng là quan yếu. Quan tỉnh phải nên xét rõ hình  thế, đặt thêm đài thành, chia đặt các thứ súng lớn, để nghiên cứu dự bị".

Sai quan quân xem xét địa thế tỉnh Quảng Nam, đặt thêm thành đài:

«Đặt 7 đồn Trấn Dương ở ven biển tỉnh Quảng Nam. Từ khi người Tây Dương gây chuyện, vua chú ý đến việc phòng thủ mặt biển, sai quan tỉnh Quảng Nam là bọn Mai Công Ngôn xem xét tình thế chỗ vụng Trà Sơn, đặt thêm nữ tường ở đài thành, khen bắn súng ở pháo đài, lại ở tả hữu nơi Diên Chủy và Trà Sơn, xây dựng 7 đồn, sai bọn lãnh binh Giáp Văn Tân và Mai Điền chuyên đốc việc ấy... Đồn xây dựng xong từ đồn thứ 1 đến đồn thứ 7 kéo liền đặt tên là đồn Trấn Dương (chống quân Tây Dương).

Thường bảo các đại thần rằng: «...Các cửa biển lớn như Đà Nẵng, Thị Nại, Cần Giờ, đều là nơi trọng địa quan yếu. Nay số đồng và gang còn chứa nhiều trong kho, ta muốn đúc thêm thứ súng hạng lớn [...] chia ra ở các đồn mặt biển... để vững vàng việc phòng thủ mặt biển […]. Lại thông dụ cho các địa phương rằng: «Nước Phật Lan Tây [Pháp] mọi rợ, ngông cuồng, tội không đáng khoan xá, nếu chúng lại đến, không cứ là thuyền buôn hay thuyền quân, các phận cửa biển nơi sở tại phải đuổi đi, không được cho chúng bỏ neo».[41]

 

 

 

Ứng xử với đạo Gia-Tô

Mùa xuân tháng ba, Đinh Mùi (Tháng 4-1847), Đại Nam Thực Lục ghi:

«Khoa đạo[42] là bọn Đặng Minh Trân, Phạm Xuân Quế, Vũ Văn Trị tâu xin cấm chỉ đạo Gia Tô, nếu kẻ nào thực bụng bỏ đạo thì gia cách thưởng.

Vua nói: Bọn ấy nếu một mực chấp mê, luật pháp nên để vào tôi nặng, nếu bỏ đạo thì tha tội chất [gông cùm] cho, đã là may lắm rồi, há lại mong được thưởng?»

Xác định lại lý do cấm đạo: vì đạo này không thờ cúng tổ tiên:

«Nhân xuống dụ rằng: "Gia Tô là tả đạo, từ Tây dương đến. Cái đạo của chúng không thờ cha mẹ, không kính quỷ thần, thác ra cái thuyết Giê-su với thập tự giá để mê hoặc lòng người, đặt ra thuyết thiên đường và nước phép, để người ta nghe đến thì mê! Khoảng năm Minh Mệnh [1820-1840] nghiêm cấm. Phàm những điều nên cấm, lại do qua đài ngự sử bàn rõ lục tống [biên chép rồi truyền cho mọi người biết] thi hành (...) đều đã nhất nhất chu đáo, rõ rệt, không sót một chút nào (...). Nếu có đạo trưởng Gia Tô còn ngấm ngầm ẩn giấu ở địa hạt nào, thì quan sở tại phải thường gia kiểm sát [luôn luôn tăng sự kiểm soát], nơi nào gần bên cạnh, biết thì phát giác ngay, để cho thi hành pháp luật (...).

Phân phủ Quảng Oai là Trần Ngọc Dao ngầm theo tả đạo, không lo liệu tang mẹ, bị người ta cáo giác. Vua giao việc để tra xét. Tổng đốc Sơn Tây là Nguyễn Đăng Giai nghị phạt trượng cách chức. Vua nói: "Ngọc Dao không lo liệu đến việc tang mẹ, rõ là đã mất hết lương tâm. Không nên xử tội nhẹ, phải đổi phạt trượng cách chức làm phạt đồ [khổ sai] 1 năm. Đăng Giai tra nghị không hợp lẽ, truyền Chỉ ban quở"[43]

 

Xem như thế, triều đình coi việc không tang giỗ mẹ cha, không thờ cúng tổ tiên là một tội nặng. Nhưng sau trận Đà Nẵng 1847, Nguyễn Đăng Giai xin đình chỉ việc cho các thuyền đi công cán nước ngoài, vua không cho. Về việc đàn áp đạo, vua cũng không cho:

«Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên Nguyễn Đăng Giai dâng sớ nói: "Người Tây dương phần nhiều gian giảo, đem tà giáo mê hoặc người ta. Nay việc Đà Nẵng đã như thế, xin từ nay, những thuyền công [cán] phái ra ngoài biển đều nên đình chỉ. Đạo trưởng Gia Tô nếu bị bắt để xét xử thì nhất thiết theo pháp luật xử trí, không thể khoan túng [bao dung buông lỏng] cho chút nào". Vua nói rằng: "Nói như thế cũng có lý, chỉ có vì việc Đà Nẵng mà vội đình chỉ ngay đường ra biển thì chưa khỏi tỏ ra là yếu thế. Huống chi Gia Tô là tà đạo, làm mê hoặc [lòng người] đã sâu, cốt phải nhiều phương diện mở bảo, cứ từ từ để mặc kệ chúng, để cho làm điều lành, đổi điều lỗi. Nếu nhất khái vội gia ngay hình pháp, chẳng hầu như thêm việc ra ư?"[44]

Lời vua Thiệu Trị rất rõ ràng, sau này vua Tự Đức cũng nói tương tự như thế: vua luôn luôn bênh vực giáo dân trước quần thần, vua cho là dân chúng bị «mê hoặc», cần phải có thời gian để giải thích cho họ hiểu, vua không ra lệnh giết giáo dân, như những điều ghi trong sách sử của thực dân mà các sử gia người Việt chép lại. Việc Đô đốc Cécille, đưa ra con số 5 hay 600.000 người công giáo bị vua Thiệu Trị giết, là một lời bịa đặt vu khống.

Mùa thu, tháng 9, Đinh Mùi (tháng 10-1847), vua nhắc lại lần nữa về việc cấm đạo:

"Nhắc lại điều cấm theo tả đạo cho các quan chức trong kinh ngoài tỉnh. Dụ rằng:"Đạo Gia- Tô là tà giáo, làm mê hoặc lòng người rất sâu, không những cám dỗ làm cho tiểu dân u mê, mà đến cả người trong quan chức, cũng có kẻ say mê không tỉnh! Gần đây như việc Đà Nẵng ở tỉnh Quảng Nam, Suất đội Vũ Văn Điển vì Dương di [man di Tây dương] mà ngầm đưa tờ ước thúc, làm tiết lộ quân cơ! Lại như Phân phủ Trần Quang Giao ở tỉnh Sơn Tây ngầm theo tả đạo, không lo liệu việc tang mẹ. Những hạng người như thế kể cũng có nhiều, không thể để cho nó lớn dần lên mãi được. Vậy hạ lệnh cho các thượng ty ở trong Kinh ngoài tỉnh phải gia tâm kiểm sát những thân biền [quan võ gần cận] thuộc dưới quyền, nếu có người nào không gột bỏ sạch đi được, thì trích ra tham hặc [hạch tội] trị tội, để tuyệt cái rễ xấu"[45]

Đối với những quan chức theo đạo, làm phản, giọng vẫn ôn tồn. Vũ Văn Điển ngầm đưa lệnh thư của triều đình cho Pháp, phạm tội phản quốc, sẽ bị xử chém. Còn những người khác, nếu không bỏ đạo cũng chỉ bị hạch tội, chứ không thấy nói đến xử tử.

 

 

 

Vua mất

Từ sau trận Đà Nẵng 15-4-1847, vua phẫn nộ khác thường, Jurien de la Gravière viết: «Được tin về cuộc giao tranh này, Thiệu Trị nổi giận đùng đùng: ra lệnh đập vỡ tất cả đồ vật Tây phương trong cung, sôi sục khởi động các vũ khí phòng thủ và tuyên cáo 4 dụ cấm đạo trong những tháng kế tiếp.»[46]

Trong ba tháng (từ tháng 5 đến tháng 8), vua lo tổ chức việc phòng bị trên toàn thể lãnh thổ. Tháng 9, vua có dấu hiệu mệt mỏi, nhưng vẫn gượng làm việc.

Đại Nam Thực Lục ghi: «Vua không được mạnh, từ đầu tháng 8 [tháng 9-1847] hơi trở trời. Vài ngày sau lại khỏi dần, gượng bệnh coi việc chính trị, sớ tấu bốn phương đều chuẩn cho mỗi ngày tiến trình, tùy từng việc mà phê trả lời. Rồi nhân nhọc mệt, bệnh tình chuyển thành trầm trọng. Đến ngày Quý Tỵ, tuyên triệu cố mệnh lương thần Trương Đăng Quế, đại thần Vũ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Thiếp vào hầu. Vua đợi vắng hai bên bảo rằng: "Ta nối nghiệp lớn đến nay 7 năm, sớm tối chăm lo, không dám nhàn rỗi. Gần đây bị bệnh, nay mệt lắm rồi, nghĩ đến nghiệp lớn của tổ tông giao phó vào mình, ta không thể không nghĩ sẵn chí kế [ý  lớn] của xã tắc. Các con ta, Hồng Bảo tuy lớn, nhưng là con vợ thứ, mà lại ngu độn, ít học, chỉ ham vui chơi, không thể để cho kế thừa nghiệp lớn được. Hoàng tử thứ hai là Phúc Tuy Công [Tự Đức] thông minh, nhanh nhẹn, chăm học, giống như ta, có thể nối ngôi hoàng đế. Trước đây ta đã tay phê vào di chiếu để trong cái ống rồng, nay giao cho các ngươi kính cẩn phong kín, vạn nhất ta có mệnh hệ nào, thì tuyên bố ngay để cho thần dân trong ngoài đều biết, ta sở dĩ cẩn thận chọn người nguyên lương [toàn vẹn giỏi] là cái ý lo sâu nghĩ xa. Các ngươi đều là đại thần của nước, chịu ân sâu nghiã nặng, nên đem tấm lòng giúp ta mà giúp tự quân. Phải kính cẩn thay, chớ bỏ mệnh lệnh của ta!" Các đại thần đều chảy nước mắt khóc, rồi lui ra. Ngoài triều đình không ai biết. Rồi viện thái y ngày dâng thuốc thang, không khỏi. Hoàng tử thứ hai là Phúc Tuy Công và các hoàng tử sớm hôm chầu chực hai bên; đại thần Trương Đăng Quế chực ở tả hữu vu để thỉnh an.

Ngày Quý Mão, bệnh rất nặng, vua mất ở chính điện cung Càn Thành, thọ 41 tuổi[47]: Hoàng tử, hoàng nữ tất cả 54 người (hoàng tử 29, hoàng nữ 25), ngày hôm ấy, hoàng thân và các quan văn võ đều ở đấy. Tuyên di chiếu ở điện Cần Chính.[48]

(Trích) Chiếu:

"Ngày mồng 5 tháng 8 [13-9-1847], ta không được mạnh, đến mồng 9 hơi đỡ, mồng 10 ngự điện coi chính trị xong, khi về cung, bệnh lại tăng! Luôn đến tháng 9 đây, chuyển thành trầm trọng! Nhưng mà ngày ngày các quan tâu việc đều chuẩn cho tiến trình, gượng bệnh tùy phê từng việc, không để đọng lại chút nào. Vả lại, nhận trách nhiệm trị nước yên dân, còn hơi thở ngày nào thì việc nước tình dân đều phải thoả biện ngày ấy, có dám dựa vào cái gối để làm ra mỏi mệt không chăm việc được đâu!" [49]

Ngày 17-8 Đinh Mùi (25-9-1847) vua Thiệu Trị gọi các đại thần Trương Đăng Quế, Vũ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Thiếp vào dặn dò.

Giờ Sửu ngày 27-9 Đinh Mùi (4-11-1847) vua băng.

Ngày 3-10 Đinh Mùi (10-11-1847) vua Tự Đức lên ngôi.[50]

 

Trận chiến chớp nhoáng Đà Nẵng 1847, cho đến nay chúng ta vẫn theo thoại của Pháp: coi đó là sự hiểu lầm giữa hai bên, mà thực ra đó là một trận Trân Châu Cảng thế kỷ XIX, trên đất Việt. Pháp tấn công bất ngờ triệt hạ hạm đội chủ chốt của Đại Việt, mà không bị tổn hại gì. Chiến thắng này dẫn đến chiến thắng Đà Nẵng 1858, mở đầu cuộc xâm lăng của Pháp.

Qua trận Đà Nẵng 1847, chúng ta hiểu rõ hơn sự khác biệt Đông Tây về cả hành động lẫn tư tưởng. Quân Pháp có thể dùng các thủ đoạn gian giảo mà họ coi là chiến lược để thắng trận, nhưng các quan trong triều vẫn đường đường, chính chính, theo lối xử sự của người quân tử: cho tầu Pháp vào đậu trong vịnh Đà Nẵng, mà không phòng bị, để họ cướp buồm, cướp khí giới, trước khi pháo kích tàn phá hạm đội Đại Việt.

Sự thật thà này đã đưa đến thảm bại, đến cái chết của vua Thiệu Trị. Về sau, triều đình mới vỡ lẽ ra và coi quân Tây dương là «gian giảo, sài lang», nhưng đã quá muộn.

 (còn tiếp)
Thụy Khuê
Paris 29-1-20026


[1]             Đại Nam Thục Lục, tập 6, nhà xuất bản Giáo Dục, 2001, trang 985.

[2]           Jurien de la Gravière, Voyage de la corvette La Bayonnaise dans la mer de Chine, (Chuyến đi của tiểu hạm dẫn đường La Bayonnais ở biển Đông), Paris, 3e édition, tome I, p. 90; in lại trong Georges Taboulet, La Geste française en Indochine (Huân trạng của người Pháp ở Đông Dương) tập 1, trang 370.

[3]             Nguyên văn tiếng Pháp: "En 1847, sous le règne de Tien-Tri, survient le premier conflit entre l'Annam et la France; cinq corvettes annamites qui avaient menacé d'attaquer la Gloire et la Victorieuse, frégates françaises commandées par Lapierre et Rigault de Genouilly, furent détruites dans la baie de Tourane. Tien-Tri en mourut de chagrin », Jean-Louis de Lanessan, L'Indochine française, étude politique, économique et administrative sur la Cochinchine [Đông Dương Pháp, khảo luận chính trị, kinh tế và hành chính về Đông Dương], Félix Alcan, Paris, 1889, t. 626.

[4]             Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển 2, trang 233-234.

[5]           J. Silvestre, Politique francaise dans l'Indochine (Chính trị Pháp ở Đông dương), Annales de l'École libre des Sciences Politiques, Janvier 1896, trang 55.

[6]           Nguyễn Thế Anh, Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1970, trang 17-18. Những đoạn in đậm trong bài này là do chúng tôi muốn lưu ý độc giả.

[7]             Đại Nam Thực Lục, tập 6, nhà xuất bản Giáo Dục, 2001, trang 997.

[8]           Việc cấm đạo ở Á châu trải dài trong hai thế kỷ, từ khi Giáo hoàng Benoit XIV (1740-1758) ban hành giáo lệnh Ex quo singulari (1742), tuyệt đối cấm Nghi lễ Trung Hoa và Ấn Độ (tức là cấm tam giáo Khổng, Lão, Phật và cấm thờ cúng tổ tiên). Mãi đến năm 1939, Giáo hoàng Pie XI (1857-1839) mới bãi bỏ giáo lệnh này.

[9]           Bùi Quang Tung, Le combat naval de Tourane (1847). Une nouvelle appoche (Trận thủy chiến Đà Nẵng (1847). Một cách tiếp cận mới), Outre-Mers, Revue d'histoire, Année 1995, 306, trang 5-21, trang 17.

[10]         Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, tập II, Bộ Giáo dục-Trung Tâm Học Liệu xuất bản, 1971, trang 242.

[11]            Bùi Quang Tung, Le combat naval de Tourane (1847), une nouvelle approche (Trận thủy chiến Đà Nẵng (1847 Outre-Mers, Revue d'Histoire, số 306, năm 1995, trang 21.

[12]         Bùi Quang Tung, bài đã dẫn, trang 17.

[13]            Archives du Ministère des Affaires étrangères (AAE). Mémoires et documents , Asie, t.24, fo 243-244.

[14]         Chúng tôi in đậm. Nguyên văn tiếng Pháp: “Sire,

               J'arrive de France depuis très peu de temps, avec l'ordre d'envoyer de suite à Tourane un des bâtiments de ma division pour connaitre le résultat de la lettre que le contre-amiral Cécille que je viens de remplacer, a fait parvenir à Votre  Majesté, il y a environ deux ans par la corvette d'Alcmène. J'ai remis une nouvelle copie de cette lettre, en langue siamoise, au Commandant Rigault de Genouilly, qui commande la corvette Victorieuse que j'expédie tout exprès  pour vous porter ces deux dépêches. Dans peu de jours, je me rendrai moi-même dans cette baie pour traiter des affaires qu'elles  concernent” (Bùi Quang Tung, Le combat naval de Tourane (1847), Une nouvelle approche (Trận thuỷ chiến Đà Nẵng (1847), Một tiếp cận mới), in trong Revue d'Histoire Outre Mers, số 306, 1995, trang 7.

[15]            Theo nhật ký của Fornier-Duplan, in trong Taboulet, tập 1, trang 362-363.

[16]         Archi. Aff. Etrang., vol. 304, p.1261), texte inédit (văn bản chưa công bố), in trong La Geste française en Indochine, Taboulet, tome 1, trang 363-364.

[17]            Auguste Haussman, Voyage en Chine, Cochinchine, Inde et Malaisie, 1848 (Chuyến đi Trung Hoa, Việt Nam, Ấn Độ và Mã Lai, 1848), tome II, trang 372-395, in lại trong Taboulet, tập1, trang 364-366.

[18]            Augustin, Denis, Edouard de Lapierre, sinh ngày 8-10-1795, tại Vigan (Cévennes). Đại uý hải quân trong chuyến đi vòng quanh đảo Bougainville [quần đảo Salomon, Thái Bình Dương]. Năm 1844, tham dự oanh tạc Tanger và Mogador. Năm 1847, de Lapierre thay thế Đô đốc Cécille làm Tư lệnh Hải quân Pháp ở Đông Dương. Ngày 29-1-1848, trao lại chức này cho Jurien de la Gravière. Được toà án quân sự Toulon tha bổng ngày 14-6-1848, về tội làm đắm tầu la Gloire. Tháng 9-1852, thăng Thiếu tướng Hải quân. De Lapierre qua đời tại Paris ngày 11-11-1855 (Taboulet, tập I, trang 373, chú thích 2).

[19]            Charles Rigault de Genouilly, sinh tại Rochefort ngày 12-4-1807; tốt nghiệp trường Polytechnique năm 1827, xung vào hải quân. Tham dự các chiến dịch Hy Lạp, Alger, Tage, Anvers, Ancône. Thăng Đại úy năm 1834, Trung tá năm 1841. Cuối năm 1843, thuyền trưởng tầu la Victorieuse. Tháng 2-1845, truy nã cướp biển ở Basilan. Được tha bổng tội làm đắm tầu la Victorieuse ở Triều Tiên năm 1847. Ngày 22-7-1848, thăng Đại tá,  Ngày 2-12-1854, thăng Thiếu tướng. (Taboulet, tập I, trang 373-374, chú thích số 3).

[20]         Théodore, Auguste, Forcade, sinh tại Versailles ngày 2-3-1816. Đi truyền giáo năm 1842. Năm 1844, đi tầu Cécille đến quần đảo Riou-Kiou để nghiên cứu cách đưa giáo sĩ thâm nhập vào Nhật Bản. Năm 1846, được phong Giám mục Samos và Đại lý Giáo Hoàng (Vicaire apostolique) tại Nhật. Năm 1847, làm thông ngôn trên tầu La Gloire cho Tư lệnh de Lapierre và dường như chính ông đã gợi ý biện pháp quyết liệt (đánh phá 5 chiếc thuyền đồng) (En 1847, interprètre sur La Gloire du commandant Lapierre, dont il semble avoir inspiré l'attitude énergique). Năm 1852, ông rời Hội Thừa Sai. Sau đó trở thành Giám mục Guadeloupe (1853), Nevers (1861), sau cùng làm Giám mục Aix -en-Provence. Qua đời tại Aix ngày 12-9-1885. (Taboulet, tập I, trang 373, chú thích số 1).

[21]         Miếng giấy này do sĩ quan Desmoulins nhận được trên đất liền, ông này sau sẽ làm Tham mưu trưởng cho Đô đốc La Grandière tại Sài Gòn.(Taboulet, tập 1, trang 374, chú thích 4).

[22]         Boucho là Khâm sứ của giáo hoàng ở Malacca. Những Khâm sứ của giáo hoàng chỉ được về Âu Châu với sự đồng ý của 2 vị đồng liêu (Taboulet, tập 1, trang 374, chú thích số 6).

[23]            Nguyên văn tiếng Pháp: «La Gloire mouilla à Tourane le 23 Mars; elle y rencontra la Victorieuse, partie de Macao cinq jours avant elle et rendue depuis le 17 à destination. Le commandant Lapierre avait chargé M. Rigault de Genouilly de remettre en mains propres au Préfet du Quang-Nam une lettre au Roi Thiêu-Tri en faveur des chrétiens. A notre arivée, on n'avait encore pu communiquer qu'avec des mandarins des derniers rangs... Le commandant Lapierre se résolut à un coup de vigueur, qui devait nous conduire nécessairement à une conclusion. Étaient mouillés cinq belles corvettes cochinchinoises, de construction européenne. Elles sont à l'improviste cernées par nos canots; nos matelots les abordent et, avant que les malheureux qui les montaient aient eu le temps de se reconnaître, toutes leurs voiles sont prises, déposées dans deux petites jonques et conduites en poste sur, entre la Gloire et la Victorieuse. «Quand, on aura pris notre lettre et qu'on y aura répondu, amis, «soyez tranquille, on vous les rendra». Ceci passait le 30 mars. Le 31, le Préfet était à Tourane et se déterminait à prendre la lettre. Il promit une réponse dans les dix ou douze jours. Le matin du 12 avril, un petit mandarin vient sur la Gloire; il dit qu'un grand mandarin est arrivé  et invite le commandant  à venir recevoir la réponse à terre. Le commandant demande qu'on lui appotre la réponse à bord. On s'obstine: «Venez à bord»- «Non, venez à terre». Nos officiers étant allés se promener à terre, rencontrent dans un champ, un jeune homme qui leur fait des signes alarmants. Il écrit sur un papier quelques caractères: Pendant le festin, tout le monde vous attaquera». Le 13, à l'heure où le commandant devait descendre, on crut s'apercevoir que les armes avaient été apportées sur les deux petites jonques qui contenaient les voiles, des pierres, des lances, des fusils, des sabres, de la poudre. Le tout est immédiatement cofisqué. Le volontaire de marine remarque un papier que le patron de la jonque dérobe à ses regard. Il s,en saisit, c'est tout un plan de conspiration contre nous: pendant que les états-majors seraient en conférence, on devait, à unsignal donné, pour peu qu'on ne nous trouvât pas assez «respectueux et obbéissants»- tomber de toutes parts sur nos navires, les reduire en pièces, frapper une telle terreur les Européens qu'ils n'osassent plus reparaitre en ces lieux».

               Le commandant fait prendre une copie et le 14, il l'adresse à l'envoyé du Roi, en lui demandant des explications . Elles furent données le soir même, mais rien moins que satisfaisantes, avec toujours le refus de venir à bord. Le mandarin, déconcerté, chercher à gagner du temps. Le 15 au matin, pendant que le commandant songeait à répondre aux explications du mandarin, la vigie découvre quatre grandes jonques qui, du dehors, faisaient voile vers la baie. Cinq corvettes étaient de plus embossées en ligne de combat et, à l'embouchure de la rivière, se faisaient voir plusieurs jonques, couvertes d'hommes et bien armées, placées là, disait-on, pour faire honneur au grand mandarin. Il paraissait évident qu'on voulait nous attaquer de trois côtés à la fois.

               Le commandant envoie à terre un officier avec le pavillon parlementaire  et un interprètre: Les jonques doivent être invitées à rétrograder, si non on tirera. L'officier n'obtinet pas de réponse. On attendit cependant de 8 heures à 11 heures 10. Les jonques avancaient toujours. Le premiers coup de canon fut tiré de la Gloire. Les Annamites étaient préparés, les mandarins les avaient sans doute privés de tout moyen de fuite; ils se défendirent mieux que nous l'avions pensé. Leurs batiments, d'un bois très dur, étaient d'une solidité très  remarquable; ils furent écrasés par 800 boulets lancés en 70 minutes, l'un sauta, l'un brula, un troisième  coula; les deux autres se rendirent et furent brulés après l'action, après écvacuations des blessés, qui furent soignés par nos chirurgiens, ce à quoi ils ne s'attendaient guère... La Gloire n'a eu ni tué ni blessé; les boulets passaient au-dessus de nos têtes, coupant quelques cordages. La Victorieuse plus exposée au feu, n' a perdu qu'un homme, à qui j'ai donné l'absolution, plus un blessé, qui en sera quitte avec une main perdue, et trois ou quatre contusions lègères par éclats de bois. Nous passâmes le reste du jour à contempler l'incendie des corvettes, pour ne pas paraitre fuir devant les forts et les jonques... Le lendemain, le commandant fit porter dans une pagode une enveloppe. “Voilà une preuve (?) du respect et de l'obéissance des Barbares que tu “voulais mettre en pièces; si cela ne suffit pas, on en enverra d'autres”. Nous partimes vers midi.

               Le commandant Lapierre et M. Rigault de Genouilly m'envoient à Paris, avec l'assentiment  de Mgr Lefèbvre et de  Mgr Boucho, pour rendre compte de cette affaire. Je voyage par la malle anglaise avec M. Chamaison, porteur des reliques de MM. Jaccard et Gagelin. Je compte arriver par Trieste et Genève, ce qui gagne cinq à six jours sur la voie de Marseille. M. Lapierre m'a bien recommandé d'aller toujours le plus vite possible”. (Arch. Miss. Etrang., vol.568, p. 342-345. Texte inédit. In lại trong Taboulet, tập I, trang 371-372)

[24]            Nguyên văn tiếng Pháp: «Le 13, à l'heure où le commandant devait descendre, on crut s'apercevoir que les armes avaient été apportées sur les deux petites jonques qui contenaient les voiles, des pierres, des lances, des fusils, des sabres, de la poudre. Le tout est immédiatement confisqué.»

[25]         Taboulet, tập 1, trang 374, chú thích 5.

[26]            Thư này của Géraud, ngày tháng để trống, được Bộ trưởng Canh nông và Thương mại chuyển đến Bộ trưởng ngoại giao ngày 1-5-1849, có lẽ viết vào khoảng tháng 2-1849  (Taboulet, tập 1, trang 374, chú thích số 7).

[27]            Aden là kinh đô nước Yémen, bên bờ Ấn Độ Dương.

[28]            Người Anh đã từ lâu nhòm ngó nước Nam, muốn lợi dụng bi kịch Đà Nẵng. Tháng 10-1847, sir John Davis, Toàn quyền Hồng Kông đã đến Đà Nẵng với một chiến hạm và một tầu chạy hơi nước, mang thư của nữ hoàng Victoria. Ông ta xin chiếm đóng một cái đồn trên vịnh và kéo cờ Anh-Việt cạnh nhau. Ông ta đã xin ký một khế ước thương mại và cống hiến triều đình Huế sự liên minh chống lại mọi cuốc tấn công mới của Pháp. Sir John Davis, khẩn khoản xin gặp mặt vua, nhưng vô hiệu, ông ta vấp phải sự từ chối lịch sự nhưng dứt khoát, và phải bỏ đi. Có lẽ những vị quan đã trả lời sứ giả nữ hoàng Anh: "Họ đã biết rõ người Pháp như thế nào, mặc dù mối quan hệ với Pháp đã bị cắt đứt, họ cũng chẳng sợ gì người Pháp". Taboulet, tập 1, trang 374, chú thích số 8.

[29]            Arch. Aff. Etrang. Mémoires de Documents, Asie, t.25. Fol.102-105), Taboulet, tập1, trang 372-373.

[30]         Đại Nam Thực Lục tập 6, trang 983. Nhà xuất bản Giáo dục, 2006.

[31]         Jurien de la Gravière, Voyage de la corvette La Bayonnaise dans la mer de Chine (Chuyến đi của tiểu hạm dẫn đường La Bayonnaise ở biển Đông), Paris, 3e édition, t.I, p 90 , in lại trong Taboulet I, trang 369-370.

[32]         Công quán là chỗ các quan tạm nghỉ.

[33]         Thự là thay thế. Chức thự Phó Vê Uý là chức tạm thay thế Phó Vệ Uý, đôi khi được gọi là quyền Phó Vệ Uý.

[34]         Đại Nam Thực Lục, Tập sáu, Đệ tam kỷ, quyển LXV, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006, trang 975.

[35]         Đại Nam Thực Lục, Tập sáu, Đệ tam kỷ, quyển LXV,  Nxb Giáo Dục, 2006, trang 976.

[36]            Đại Nam Thực Lục, Tập sáu, Đệ tam kỷ, quyển LXV,  Nxb Giáo Dục, 2006, trang 983-984.

[37]          Đại Nam Thực Lục, Tập sáu, Đệ tam kỷ, quyển LXV,  Nxb Giáo Dục, 2006, trang 984.

[38]            Đại Nam Thực Lục, Tập sáu, Đệ tam kỷ, quyển LXV, Nxb Giáo Dục, 2006, trang 984-985.

[39]         Đại Nam Thực Lục, Tập sáu, Đệ tam kỷ, quyển LXV, Nxb Giáo Dục, 2006, trang 989- 990.

[40]         Khém là cửa nhỏ trổ hai bên vách.

[41]         Đại Nam Thục Lục, tập 6, nhà xuất bản Giáo Dục, 2001, trang 1002-1003.

[42]         Khoa đạo là quan coi việc đạo.

[43]            Đại Nam Thực Lục, Tập sáu, Đệ tam kỷ, quyển LXV, Nxb Giáo Dục, 2006, trang 997.

[44]         Đại Nam Thực Lục, Tập sáu, Đệ tam kỷ, quyển LXV, Nxb Giáo Dục, 2006, trang 1003.

[45]         Đại Nam Thực Lục, Tập sáu, Đệ tam kỷ, quyển LXV, Nxb Giáo Dục, 2006, trang 1072.

[46]         Jurien de la Gravière, Voyage de la corvette La Bayonnaise dans la mer de Chine (Chuyến đi của tiểu hạm dẫn đường La Bayonnais ở biển Đông), Paris, 3e édition, t.I, p 90 , in lại trong Taboulet I, trang 370.

[47]            41 tuổi ta, tức 40 tuổi tây.

[48]         Đại Nam Thực Lục, Tập sáu, Đệ tam kỷ, quyển LXV, Nxb Giáo Dục, 2006, trang 1074-1075.

[49]            Đại Nam Thực Lục, Tập sáu, Đệ tam kỷ, quyển LXV, Nxb Giáo Dục, 2006, trang1075.

[50]            Đại Nam Thực Lục, Tập sáu, Đệ tam kỷ, quyển LXV, Nxb Giáo Dục, 2006, trang 1076.

 


© 2026 Thụy Khuê