|
Lịch sử truyền giáo và chữ quốc ngữ Chương 13
Vua Thiệu Trị Phần I Giám mục Lefèbvre
«Sức đã không đủ giữ nước mà lại cứ làm điều tàn ác. Đã không cho người ngoại quốc vào buôn bán, lại đem làm tội những người đi giảng đạo, bởi thế cho nên nước Pháp và nước Y Pha Nho mới nhân cớ ấy mà đánh nước ta vậy».[1] Đó là lời buộc tội nhà Nguyễn đã gây ra cuộc chiến xâm lược của Pháp của sử gia Trần Trọng Kim. Những lời này được phổ biến từ năm 1920, trong Việt Nam Sử Lược, bộ sử quốc ngữ duy nhất được dùng làm sách giáo khoa cho tới thời hiện đại (ở miền Nam, tới năm 1975), đã in vào đầu óc nhiều thế hệ dấu ấn khó nhòa. Ngày nay, chúng ta không thể tiếp tục chấp nhận «sự thực» lịch sử man trá này, do người Pháp chế tạo mà phải trở lại nguồn để tìm ra sự thực, bằng những chứng từ đích xác. Cuộc chiến xâm lăng, không bắt đầu dưới thời vua Tự Đức, như ta được học, được biết, mà đã bắt đầu dưới thời vua Thiệu Trị với trận Đà Nẵng 1847, một trận Chân Trâu Cảng thế kỷ XIX, dẫn đến cái chết của vua Thiệu Trị bẩy tháng sau đó. Giám mục Lefèbvre chính là nguyên nhân đưa đến cuộc đụng độ Pháp-Việt này. Nhưng trận Đà Nẵng 1847, cho đến bây giờ vẫn chưa được soi tỏ. Ở thời điểm lịch sử này, Giám mục Lefèbvre là một nhân vật tiêu biểu, thể hiện sự kiên trì của các giáo sĩ, bất chấp lệnh cấm của triều đình, bằng mọi giá, phải trốn vào nước Việt. Qua những báo cáo gửi về chính phủ Pháp, trình bày những lợi nhuận lớn, nếu đánh chiếm Việt Nam, các vị cố đạo đã kích thích lòng tham của chính quyền và thúc đẩy cuộc chiến xâm lăng. Trường hợp Giám mục Lefèbvre là điển hình: Dù biết Giám mục đã được tha, nhưng hải quân Pháp vẫn đem tầu chiến đến uy hiếp Đà Nẵng, đòi thả vị Giám mục; thực ra, họ chỉ tìm cớ để tấn công, và sau khi đã tiêu diệt năm chiếc tầu chiến bọc đồng, tiềm lực của hải quân triều đình, họ bỏ chạy, không quan tâm gì đến số phận của vị Giám mục.
Chương này chia làm hai phần: Phần I: Giám mục Lefèbvre, nguồn cội cuộc xung đột. Phần II: Trận Đà Nẵng 1847, cuộc tấn công đầu tiên của Pháp.
Pháp muốn tìm một cơ sở ở biển Đông Á châu là vùng đất hứa mà người Âu muốn chinh phục trong thế kỷ XIX: Năm 1842, Anh đã chiếm Ấn Độ, thắng thế Trung Hoa trong chiến tranh nha phiến lần thứ nhất (Anh đem thuốc phiện trồng ở Ấn Độ vào bán ở Trung Hoa), triều đình nhà Thanh phải ký hiệp ước Nam Kinh (1842) với những điều khoản nhục nhã: - Nhượng Hồng Kông cho Anh làm căn cứ thương mại và xâm lược. - Mở năm của khẩu: Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba, Thượng Hải, cho người Anh tới «buôn bán». - Chịu trả bồi thường chiến tranh cho Anh 21 triệu đồng Mễ Tây Cơ. - Để Anh tự do đem thuốc phiện vào đầu độc dân Trung Hoa.
Pháp thèm thuồng lắm. Đọc thư từ trao đổi giữa những nhân vật trong chính quyền Pháp thời ấy, toàn một giọng ganh tỵ với Anh, muốn chiếm đất này, đất kia, địa điểm nào tốt, đáng lấy, địa điểm nào xấu, nên bỏ qua, hệt như một bọn bất lương tìm nhà giầu để cướp của. Trong chỉ thị gửi các cơ quan công quyền hải ngoại (để chuyển cho Cécille, Tư lệnh Hải quân Pháp ở biển Đông và de Lagrené, Đại sứ Pháp ở Trung Hoa) ngày 9-11-1843, François Guizot, Bộ trưởng Ngoại giao (sau trở thành Thủ tướng) tỏ rõ tình thế và những ham muốn của Pháp chưa thực hiện được: «Nhà vua... đã quyết định đặt một hạm đội đỗ ở biển Trung Hoa và Nhật Bản, với nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi chính trị và thương mại của chúng ta. Nhưng hiện thời nước Pháp chưa có địa điểm nào ở vùng biển này, để tầu trong hạm đội thường trực của chúng ta có thể đậu lại, để tiếp vận lương thực, vận tải xăng dầu, khí giới, sửa chữa những hư hại, đưa người bệnh lên bờ, vì vậy nên phân hạm Pháp phải nhờ cậy kiều dân Tây Ban Nha ở Macao, hay cơ sở Anh ở Hồng Kông, hoặc Công binh xưởng Phi Luật Tân, xin họ giúp đỡ để có một điểm tựa, một điểm trú, một điểm tiếp tế. Không thể được. Nước Pháp không thể vắng mặt ở một vùng lớn như thế trên địa cầu, trong khi những nước châu Âu khác đều có cơ sở ở đó. Cờ Pháp phải phất phới trên biển Đông, ở một nơi mà tầu của chúng ta phải bảo đảm có một chỗ trú và những sự cứu trợ cần thiết. Vậy ta phải có, như người Anh đã làm ở Hồng Kông, như ta đã làm ở Marquises[2], xây dựng một cơ sở quân sự cho hải quân của chúng ta và một kho hàng cho việc thương mại. Cơ sở này cần hội tụ nhiều điều kiện chính yếu: gần nước Tầu; là một hải cảng rộng và kín [kín đáo và kín gió] để tầu tránh giông bão rất nhiều và rất mãnh liệt ở vùng này; phải có vị trí tách biệt và dễ phòng thủ; có khí hậu tốt cho thuỷ thủ đoàn có thể dưỡng sức trong một thời gian ngắn sau khi mắc bệnh do khí hậu nhiệt đới gây ra; sau cùng, tiếp cận những nguồn nước trong trẻo và dồi dào cho tầu chiến những phương tiện để tiếp tế nước ăn uống. Những khái niệm mà chúng ta có về những xứ ở giữa Ấn Độ và Trung Hoa [nguyên văn dùng chữ Indochine, sau này sẽ chỉ định Đông Dương gồm ba nước Việt, Mên, Lào] không đủ rộng cũng không đủ chính xác để ngay từ bây giờ giúp ta xác định được điểm mà ta phải chiếm (déterminer le point dont on devrait prendre possession) để xây dưng cơ sở mới này. Vì vậy không thể cho de Lagrené những chỉ thị chính xác. Ta chỉ có thể chỉ cho ông ta vài vị trí đã được các nhà thám hiểm ngày trước coi là có thể dùng làm cơ sở chính trị cho Pháp hoặc tạo ra một trung tâm phục vụ lợi ích thương mại cho Pháp ở vùng này.»[3] Sau khi duyệt qua một lượt các «địa chỉ», Guizot «chấm» Đà Nẵng, là đất đã hứa «nhượng» cho Pháp cùng với Côn Nôn (Côn đảo) trong bản hiệp ước Bá Đa Lộc ký ở Versailles ngày 28-11-1787, khi đem hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện; nhưng lại chợt nhớ rằng hiệp ước này vua Louis XVI không thi hành, «đòi» cũng khó, nên Guizot chuyển sang một đảo khác gần Phi Luật Tân: Basilan [mà Đại sứ Lagrené và Đô đốc Cécille đã thương lượng với các tù trưởng địa phương để mua với giá 100.000 đồng Tây Ban Nha], nhưng rồi vì so đo, tính toán, nên cơ hội cũng lọt mất[4].
Thuỷ sư Đô đốc Cécille
Jean-Baptiste Cécille, được phong Đô đốc năm 1847[5], Tư lệnh Hải quân Pháp ở biển Đông, là một khuôn mặt sáng giá thời đó. Trong tháng 5 và 6 năm 1843, lúc đó còn là Thiếu tá, Cécille chỉ huy tầu Erigone, 48 đại bác, tiến vào Đà Nẵng, dù không được ủy nhiệm công tác rõ ràng, nhưng ông vẫn móc nối với các quan sở tại để «điều đình». Với giọng kẻ cả, trịch thượng, Cécille nói với các quan đại ý rằng: người Âu đến đây để đánh tan nỗi thống khổ của nhân dân Việt Nam dưới ách thống trị thối nát, tồi tệ của triều đình nhà Nguyễn. Và lại được biết, con cháu nhà Lê vẫn còn một số lớn ở Bắc, ông nghĩ rằng: nếu Pháp giúp họ dựng lại cơ đồ nhà Lê giống như Bá Đa Lộc ngày trước đã giúp Nguyễn Ánh thì Pháp sẽ có vị thế hàng đầu trong triều đình mới, có một chính thể bảo đảm tự do tôn giáo, cống hiến cho Pháp tất cả lợi thế chính trị và thương mại cần thiết ở biển Đông và các nước láng giềng Lào và Cam-bốt sẽ nghe theo. Tháng 2-1844, Cécille gửi tờ phúc trình về tình hình và đề nghị chiến lược chinh phục nước Nam cho Đại sứ Lagrené đem về Pháp. Không thấy chính phủ trả lời. Trở về Paris, ông ủng hộ hết mình việc Lapierre và Rigault de Genouilly (đã theo lệnh ông) ngày 15-4-1847, tấn công tiêu diệt 5 tầu chiến bọc đồng của vua Thiệu Trị, đang bị chính quyền Pháp khiển trách. Cécille tuyên bố rằng đã đến lúc phải «thương lượng bằng đại bác» và «cho Thiệu Trị một kẻ kế nghiệp tốt», ông đề nghị đổ bộ thẳng vào Huế, nhưng lần này cũng vậy, nội các Guizot vẫn làm thinh, Đô đốc bèn tuyên bố: «chưa có nội các nào ngu xuẩn như thế».[6] Chính phủ Pháp, một mặt thèm thuồng chính sách côn đồ của Anh ở Ấn Độ và Trung Hoa, một mặt vẫn còn rát sợ, không dám động thủ. Sự trù trừ này được giới giáo sĩ thuật lại và bình luận: linh mục Douai và Giám mục Courvézy, đều có thư thông báo với bề trên. Trước hết, chúng tôi xin giới thiệu lá thư của cha Douai gửi Hội Thừa Sai.
Thư của cha Douai gửi Hội Thừa Sai Lá thư này chứa đựng những thông tin quan trọng về sách lược, về nội dung «thương lượng» mà Cécille, Tư lệnh Hải quân Pháp ở biển Đông đề xuất: đòi Việt Nam “nhượng đất”để xây dựng một thành trì, và tìm cách kết nối với cựu thần nhà Lê, hứa hẹn giúp đỡ họ lật đổ nhà Nguyễn, nhờ các giáo sĩ giúp sức; một mưu lược thảo khấu: “xin đất” lập cơ sở để thúc đẩy nội loạn, sửa soạn cho việc xâm lăng. Cha Douai viết: Manille ngày 18-6-1843, «... Chính phủ cũng manh nha ý tưởng lập thuộc địa ở vùng biển Đông, nhưng từ manh nha đến quyết định để thành công còn khá xa. Tôi [cha Douai] đã có lần coi người Pháp như những con chó nhỏ chỉ đứng xa sủa chứ không bao giờ dám cắn. Khi chúng tôi đến Đà Nẵng, Thiếu tá [tức Cécille, lúc đó chưa lên Đô đốc] báo cho các quan biết ông muốn nói chuyện với một ông quan ở Huế ra để thương lượng. Trong một tháng trời các quan không chịu tâu vua việc này, cứ ba bốn ngày họ lại đến hỏi chúng tôi muốn gì. Qua một tháng, Thiếu tá chán nản muốn đi, nói với họ là ông đến đây để nối lại mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước và để chứng thực điều đó bằng một hòa ước giống như đã ký với Gia Long thủa trước[7] nhưng ông chỉ nói chuyện với đại diện của vua. Ba ngày sau, vị Khâm sai [đại diện vua] đến. Thiếu tá đòi nhượng đất (Le commandant demande une cession de territoire). Vị quan trả lời rằng nước Nam ít buôn bán và nước Pháp cũng không có lợi gì mà xây một thành phố ở nước Nam để buôn bán. Thiếu tá bảo nước Nam liên kết với một nước lớn như nước Pháp chỉ có lợi. Vị quan nói không thể ký một hòa ước như vậy, luật pháp cấm và ông không có thẩm quyền để trả lời. Thiếu tá bảo rồi có ngày các ông sẽ tiếc và ông nhắc đến những tham vọng của người Anh. Vị quan thao thao bất tuyệt trả lời về sức mạnh quân sự của nước Nam. Cuộc hội đàm trở thành lời lẽ loạn xạ lúng túng, tất cả mọi người đều nổi nóng, trừ vị Khâm sai, có tài hùng biện, không để cho Thiếu tá chêm vào câu nào nữa. Tôi [cha Douai] không thể nhắc Thiếu tá rằng [trước đó] ông đã định nói một câu bênh vực đạo. Sau cùng, Thiếu tá đứng lên, nói lại một lần nữa là rất tiếc đã không ký được hòa ước, rằng nhà vua nên nhớ một ngày nào đó bị khó khăn với quân thù bên ngoài hay bên trong, thì nước Pháp vẫn là bạn. Ba ngày sau[8] chúng tôi nhổ neo đi Manille... Thiếu tá có vẻ thất vọng vì không ký được hòa ước với vua nước Nam, nhưng ông rất mong nước Pháp sẽ lợi dụng mầm mống loạn và chia rẽ giữa Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Khi về Pháp, ông cố gắng giải thích cho chính phủ tất cả những điều lợi có thể rút ra từ những người Bắc, kể cả người Nam, rất mừng sự hiện diện của chúng ta. Họ hy vọng rằng, nếu nhà vua từ chối cộng tác, chúng ta sẽ giúp họ tháo cũi xổ lồng; đó là điều mà một người, đáng tin cậy, nói với Thiếu tá. [ Cécille cho biết y tên Pierre, người Bắc, hết lòng với nhà Lê, mà ông muốn đưa lên ngai vàng] Người này muốn rằng: lấy cớ nghiên cứu về thuỷ đạo học ở vịnh Bắc Việt, chúng ta gửi đến một tầu chiến, sự hiện diện của tầu chiến này sẽ làm cho con cháu nhà Lê quyết định nhờ Pháp giúp đỡ và ký hoà ước với Pháp. Thiếu tá, khi giải thích cho tôi [cha Douai] việc này, bảo rằng, muốn thành công, cần phải có sự trợ giúp trực tiếp của các giáo sĩ (để cung cấp thông ngôn và báo cho các ông hoàng của triều đại cũ [nhà Lê] ý định của nước Pháp). Với tất cả những điều đó, tôi chỉ trả lời đại khái...»[9] Lời cha Douai trên đây cho thấy hai điểm chủ yếu trong chiến lược xâm lăng của Cécille: - Đòi nhượng một mảnh đất để xây một «thành phố Pháp» với chiêu bài «buôn bán». - Dụ dỗ sẽ giúp con cháu nhà Lê lấy lại ngai vàng, để họ nổi loạn lật đổ nhà Nguyễn.
Thư của Courvézy, Giám mục Tông toà Mã Lai gửi về Hội Thừa Sai Courvézy Giám mục Tông toà Mã Lai, cung cấp những thông tin tương tự như Linh mục Douai. Trong thư đề ngày 29-6-1843, gửi về Hội Thừa Sai, ông thuật lại thái độ lừng khừng của chính phủ Pháp ở Viễn Đông, cùng những ý đồ và hành động của Cécille: Tự ý «đàm phán» với các quan, và đề nghị chính phủ Pháp giúp nhà Lê «lấy lại cơ đồ», để có một chính quyền thân Pháp và phò đạo: «Chính phủ Pháp nhìn với con mắt ghen tỵ những việc lớn mà nước Anh đã làm được ở đây và ở các nơi. Họ cũng muốn làm cái gì đó, mà không biết làm gì. Không ra lệnh gì hết, không biết ra lệnh gì, trong khi tướng tá điều khiển các chiến hạm là những kẻ chỉ đợi lệnh, đành tự thao, tự tác, muốn làm gì cho vừa lòng những ông bộ trưởng để tiến thân. Chính quyền Louis-Philippe muốn có một cơ sở vững bền ở biển Đông, nhưng lại không chịu quyết định, cứ trù trừ, rốt cục chỉ quanh quẩn trong việc chỉ huy. Chính những sĩ quan coi chiến hạm, muốn có những căn cứ vững chắc để tầu đậu và sửa chữa sau những chuyến đi xa, đã khởi xướng vấn đề, nhưng cũng không dám làm tới nơi, bởi không có sự nâng đỡ trực tiếp, sợ bị cấp trên phủ nhận sự mạo hiểm của họ. Trong số những sĩ quan này, có Đô đốc Cécille liên tục ở Thái Bình Dương từ 1841 đến 1847, mới đầu là Đại tá hải quân sau thăng dần lên tướng, đặc biệt chiếu cố đến Đông Dương. Sau khi gửi chỉ huy trưởng Favin-Lévêque [đến xin tha 5 giáo sĩ tháng 3-1843, sẽ nói đến ở dưới] Cécille gửi đến nước Nam nhiều tầu khác để săn tin chính trị và an ninh cho các giáo sĩ. Từ tháng năm đến tháng sáu 1843, chiến hạm Erigone [do Cécille điều khiển], 48 đại bác, đậu ở Đà Nẵng. Tuy không có nhiệm vụ rõ ràng, ông cũng bắt đầu tiếp xúc với các quan -luôn luôn thận trọng- qua những cuộc đàm phán mù mờ, không nội dung, nên chẳng đi đến đâu. Cécille cho rằng các nước Âu châu phải gặp nhau, như họ đã từng cùng chống chính sách nô lệ, để chấm dứt sự nghèo đói ở Việt Nam do chính quyền tồi tệ gây ra, nhưng ông lại không muốn kéo Paris vào vì chưa có lệnh rõ ràng. Ngoài ra, Cécille cho rằng vấn đề công giáo ở Viễn Đông là phải "khôn ngoan", "đợi thời", chứ không thể cưỡng bách. Nhà ngoại giao tế nhị và nhà hàng hải khôn khéo này được mệnh danh là "người Normand giảo hoạt" ("le rusé Normand") quyết định không nên dùng võ lực để giải quyết vấn đề. Biết tin nhà Lê -mà con cháu đã được giới thiệu với ông ở Macao, có đưa ấn tín của vua ra làm chứng- còn rất nhiều dư đảng ở Bắc, Cécille, dù thận trọng, cũng đã kết luận rằng nước Pháp sẽ rất có lợi nếu giúp đỡ những ông hoàng sống sót của triều đại suy vong này, cũng giống như Gia Long, khi mất hết cơ đồ, đã kêu gọi sự cứu trợ của vua Pháp. Đô đốc nghĩ rằng nếu con cháu nhà Lê ở Bắc nhờ Pháp lấy lại được ngôi báu, sẽ bảo đảm sự tự do theo đạo và để cho Pháp những quyền lợi về thương mại, Cao Mên sẽ theo gương và triều đình Huế, bất lực, cũng phải theo luôn. Tháng 2-1844, Cécille gửi cho đại sứ Lagrené [Đại sứ Pháp ở Trung Hoa] những đề nghị này để chuyển về Pháp, nhưng không được trả lời. Trở về Pháp, Cécille hết lòng ủng hộ bản điều trần của giám mục Forcade bênh vực Lapierre và Rigault de Genouilly trong trận Đà Nẵng. Ông tuyên bố "đã đến lúc phải thương thuyết bằng đại bác" và phải cho Thiệu Trị "một người kế vị tốt". Ông còn xung phong cầm đầu đoàn quân viễn chinh đánh Huế, nhưng không được Guizot, Bộ trưởng ngoại giao chấp nhận, "một bộ thậm ngu xuẩn".[10] Hiển nhiên là Cécille bênh vực Lapierre và Rigault de Genouilly, vì chính ông sai hai người này tấn công, lý do: những bản phúc trình ông gửi về Pháp không đem lại kết quả mong muốn, nên cuối cùng Cécille đã tự tiện ra tay, phái Lapierre, chỉ huy, cùng Rigault de Genouilly, phụ lực, đem hai tầu chiến La Gloire và La Victorieuse đến Đà Nẵng, chớp nhoáng tấn công tiêu diệt năm thuyền đồng của vua Thiệu Trị, rồi bỏ chạy. Không hiểu có phải vì vụ này mà Cécille bị gọi về Pháp, vì chính phủ Pháp lúc ấy chưa quyết định đánh chiếm thuộc địa ở châu Á. Nhưng «thành tích» tiêu diệt tiềm lực của hải quân Việt Nam đưa đến cái chết của vua Thiệu Trị, làm nước Việt yếu đi, thuận tiện cho cuộc xâm lược.
Trận Đà Nẵng 1847, nguyên nhân và chủ đích Jean-Louis de Lanessan, học giả, dân biểu, toàn quyền Đông Dương (1891-1894), Bộ trưởng hải quân Pháp (1899-1902), phản ảnh biến cố vịnh Đà Nẵng, qua vài dòng ngắn ngủi, nhưng là nền tảng của quan niệm thực dân, thường được các sử gia dựa vào để viết về trận Đà Nẵng 15-4-1847: "Năm 1847, dưới triều Thiệu Trị, xẩy ra cuộc xung đột đầu tiên giữa Annam và Pháp; năm chiến thuyền An Nam, đã đe dọa tấn công hai tầu chiến la Gloire và la Victorieuse của Pháp, do Lapierre và Rigault de Genouilly điều khiển, bị tiêu diệt ở vịnh Đà Nẵng. Thiệu Trị chết vì phiền muộn". Nguyên văn tiếng Pháp: "En 1847, sous le règne de Tien-Tri, survient le premier conflit entre l'Annam et la France; cinq corvettes annamites qui avaient menacé d'attaquer la Gloire et la Victorieuse, frégates françaises commandées par Lapierre et Rigault de Genouilly, furent détruites dans la baie de Tourane. Tien-Tri en mourut de chagrin."[11] Đó là lý do mà kẻ xâm lăng thường đưa ra: vì bị «tấn công» trước, nên họ bắt buộc phải phản công, «tiêu diệt» địch. Sự thực như thế nào? Câu hỏi đầu tiên cần được trả lời: Tại sao hai tầu chiến La Gloire và La Victorieuse của Pháp lại có mặt tại vịnh Đà Nẵng? - Hai tầu này được Cécille, Tư lệnh Hải quân Pháp ở biển Đông, phái đến Đà Nẵng để xin tha giám mục Lefèbvre bị giam tại Huế [thực ra, giám mục Lefèbvre đã được vua Thiệu Trị thả lần thứ hai rồi]. Đó là cớ chính thức quân Pháp lập lại mỗi lần khi đem tầu chiến xâm nhập nội địa Việt Nam: đến để xin tha cho các thừa sai hoặc đến để cứu các giáo sĩ. Giám mục Lefèvbre là trường hợp điển hình chứng tỏ việc cứu giáo sĩ chỉ là cái cớ. Cécille có mặt trong suốt thời gian từ 1841 đến 1847 ở biển Đông, thời kỳ vua Thiệu Trị trị vì, và là người chủ chốt đã mượn cớ cứu Giám mục Lefèbvre, sai hai tầu chiến La Gloire và La Victorieuse pháo kích tiêu diệt năm tàu chiến bọc đồng của vua Thiệu Trị, rồi tức tốc bỏ chạy, không màng đến số phận của Lefèbvre.
Mười năm sau, Linh mục Legrand de la Liraye (tháng 12-1857) trình bày một luận cương bầy tỏ những lợi nhuận về mọi phương diện nếu xâm chiếm Việt Nam, đã viết những dòng: «Nước An Nam đất đai phì nhiêu, hơn hẳn Phi Luật Tân, Java và Bornéo, dân chúng lại dễ bảo, thông minh, siêng năng, đang rên siết dưới một chính quyền tàn bạo, bất công, lừa dối, họ sẵn sàng nổi dậy. Mà hải quân An Nam đã bị tiêu diệt từ vụ Đà Nẵng 1847.» Vậy trận chiến ngày 15-7-1847, nằm trong mưu lược xâm lăng: tiêu diệt thế lực đối phương trước khi hành động. Nhưng vì nước Pháp còn bận những vấn đề nội bộ[12] nên mười năm sau mới thực hiện ý đồ xâm lược.
Sự nhân nhượng của vua Thiệu Trị Dưới thời vua Thiệu Trị (1840-1847) các giáo sĩ bị bắt vẫn bị kết án tử hình, nhưng vua không xử tử ai cả, mà đợi tầu Tây phương đến giao cho họ, hoặc sai các quan dẫn độ sang Singapour. Thư linh mục Miche viết cho Giám mục Cuénot, ngày 28-9-1842, nói rõ sự thay đổi này: «... Dưới thời Minh Mạng, linh mục công giáo bị giam trong ngục (sau) tối. Bây giờ tất cả chúng tôi đều được ở trong ngục trước (sáng). Các ông Charrier và Duclos ở phòng đầu, thuộc khu vực Trưởng ngục; ông Berneux ở phòng thứ hai; ông Galy và tôi ở phòng thứ ba. Chúng tôi được đủ loại cấp bậc đến thăm hỏi, từ viên Cai đến quan Tổng đốc...»[13] Nhưng chính sách khoan hồng của vua Thiệu Trị không có giá trị gì đối với những kẻ chủ trương xâm lược bằng mọi giá, chỉ muốn tìm cơ hội «cứu giáo sĩ» để tấn công. Bấy giờ, quân Anh đã xâm chiếm Ấn Độ và Trung Hoa, mà Pháp chưa có một mảnh đất nào. Vì vậy, việc Giám mục Lefèbvre bị giam tại Huế là cơ hội bằng vàng để Đô đốc Cécille, Tư lệnh Hải quân Pháp ở biển Đông, có cớ hành động. Lợi dụng chiêu bài «giải thoát» Giám mục Lefèbvre, Cécille sai Đại tá Lapierre chỉ huy, điều khiển tầu chiến La Gloire và Rigault de Genouilly, thuyền trưởng tầu La Victorieuse, hợp sức, tiến vào vịnh Đà Nẵng, nã đại bác tiêu diệt năm tầu chiến bọc đồng của hạm đội Việt Nam, rồi bỏ chạy. Đây là một vụ Trân Châu Cảng thế kỷ XIX, vì sự đánh mạnh, đánh lén này, nhưng được phía Pháp «thông báo» khắp nơi rằng: vì tầu Việt bắn trước, nên họ phải trả đũa. Biến cố vịnh Đà Nẵng 1847, chấm dứt mọi quan hệ hòa hiếu Pháp-Việt, đang phát triển. Julien de la Gravière, thuyền trưởng tầu La Bayonnaise, người kế vị Lapierre, nhận định: «Dù sao chăng nữa, ta chỉ có thể tiếc cho trận đánh này, không chỉ vì sự thương tổn nhân mạng, mà vì nó đã huỷ hoại cơ may đang được triều đình Huế chấp nhận: trục xuất thay vì kết án tử hình các giáo sĩ; khoan hồng với giáo dân (ngày 3-5-1847, Giám mục Cuénot viết: «Chúng tôi tin tưởng đang đứng trước ngày mai hòa bình». Ý vua Thiệu Trị là sẽ gửi thương thuyền trực tiếp sang châu Âu. Vụ Đà Nẵng đã tàn bạo và dứt khoát lật ngược khuynh hướng này... Ngay sau trận chiến, Lapierre hấp tấp rút lui, không màng đến số phận Giám mục Lefèbvre. Thay vì đi Huế, theo lời yêu cầu của các giáo sĩ, để giải quyết vấn đề đạo giáo, Lapierre trở lại Macao, nhận nhiệm vụ khác mà Cécille giao phó... )»[14]
Mười năm sau, 1857, liên quân Pháp-Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng, nhờ sự vận động của Linh mục Huc, Giám mục Pellerin và Linh mục Legrand de la Liraye với Napoléon III (1852-1870), chính thức mở đầu cuộc xâm lăng, dẫn đến cuộc đô hộ 100 năm. Nhiều người tưởng rằng, chỉ cần «mở cửa» cho Pháp vào «buôn bán» và bỏ cấm đạo, là đáp ứng đúng nguyện vọng của Pháp, thì sẽ yên. Họ không hiểu rằng: Việc «buôn bán», triều đình nhà Nguyễn không cấm. Việc «cứu giáo sĩ», hải quân Pháp chỉ lấy cớ để xâm phạm bờ cõi Việt Nam, chứ không có ý cứu vớt ai. Nguyện vọng sâu xa của Pháp ở thời điểm ấy là chiếm hữu thuộc địa bằng mọi giá, để mở rộng Đế quốc Thực dân Pháp tại Á châu.
Favin-Lévêque tự ý đến Đà Nẵng xin tha cho 5 giáo sĩ bị tù Mọi sự khởi đầu từ tháng 3-1843, khi chiến hạm Héroine do Favin-Lévêque điều khiển, đến Đà Nẵng «xin tha» cho 5 giáo sĩ Pháp bị giam ở Huế. Sự kiện này cho thấy hai khía cạnh của cùng một vấn đề: - Các sĩ quan hải quân Pháp, thường tìm cách lập «thành tích»: Thiếu tá Favin-Lévêque, thuyền trưởng tàu Héroine, không trực thuộc hạm đội biển Đông mà thuộc hạm đội Bourbon [tức đảo Réunion, ở Ấn Độ Dương, gần Madagascar], tự ý lấy cớ cứu giáo sĩ để xâm nhập Đà Nẵng. Trong khi, triều đình đang chờ tầu Tây phương đến để trao trả những giáo sĩ này. - Các giáo sĩ vừa được tha, tức khắc tìm cách quay trở lại Việt Nam, chứng tỏ họ bất chấp luật lệ nhà nước Việt Nam và muốn tìm cái chết tử vì đạo.
Revue Coloniale [Tạp chí Thuộc địa] tháng 12-1843, viết bài tường thuật về vụ này: "Sau khi chiến tranh nha phiến bùng nổ (1839-1842), chính quyền Pháp thấy hải quân cần phải có mặt thường trực ở Á Đông, để đương đầu với mọi biến cố mới có thể xẩy ra. Kể từ 1840-41, nhiều chiến thuyền Pháp được lệnh đến biển Đông, đỗ ở Macao, Manille, Batavia, Singapour, và Hồng Kông vừa nhượng cho Anh. Được phái đi một cuộc tuần phòng dài, Thiếu tá Hải quân Favin-Lévêque, không thuộc đội ngũ đóng ở Tầu, mà thuộc đội ngũ Bourbon [tức La Réunion], đã điều khiển tầu L'Héroine, 30 đại bác, đến Macao, tình cờ biết tin có 5 giáo sĩ Pháp bị bắt giam ở Huế. Favin-Lévêque tự ý, không có lệnh cấp trên, đến giải cứu 5 giáo sĩ bị tội tử hình. Ngày 26-2-1843, tầu cập bến Đà Nẵng. Người sĩ quan trẻ [Favin-Lévêque] tỏ ra rất gan dạ và cứng rắn, từ chối quà cáp được tặng, giả vờ cắt đứt cuộc thương thuyết nếu không trả tù nhân, và tuyên bố sẽ đem tầu tới cửa sông Huế [Hương] rồi từ đó tiến thẳng đến thủ đô bằng bất cứ cách nào. Lo lắng trước đe dọa này, Thiệu Trị làm bộ vì lòng quảng đại, trả tự do và giao tù nhân cho vị chỉ huy Pháp ngày 12-3 [1843], mỗi người được phát 5 đồng tiền bằng bạc và 3 bộ quần áo. Khi các giáo sĩ đã được tự do, Favin-Lévêque cố gắng thuyết phục các quan: chống lại tiến bộ là bất lợi, và chỉ ra những lợi ích nếu nước Nam mở cửa buôn bán với nước Pháp. Các quan đút nút lỗ tai những lời trách mắng, và kết thúc buổi bàn cãi năm tiếng đồng hồ bằng những lời dứt khoát như sau: "Nước Nam xưa nay vẫn như thế, chúng tôi hy vọng sẽ còn lâu dài như thế. Đừng nài nữa. Các ông đòi hai điều, đã đạt được một, vậy nên bằng lòng"... Tầu l'Héroine rời Đà Nẵng ngày 16-3, nhận diện vị trí Cù Lao Chàm và Poulo-Condore [Côn đảo]. Favin-Lévêque đến Singapour ngày 5-4, để lại hai giáo sĩ trong đám 5 người "được gỡ từ cột treo cổ" (décrochés de potence) như lời cha Miche và cấm họ không được trở lại nước Nam, sự cấm cản này không được những Giám đốc của Chủng viện Paris chấp nhận, và chính phủ Paris "không nhúng tay vào việc giải thoát". Từ Bourbon, cha Berneux sang Triều Tiên, rồi 23 năm sau tử vì đạo tại đó; các cha Galy và Charrier được gửi về Pháp. Ở Singapour và ở Batavia, Favin-Lévêque nghiên cứu kỹ những quan hệ thương mại của nước Nam với hai thành phố này, và làm một bài báo cáo cho Toàn quyền đảo Réunion ngày 17-6-1843, rõ ràng rành mạch hơn bản đầu tiên làm ngày 9-4-1843.[15]
Những lời viết trên Revue Coloniale, tháng 12-1843, được trích dẫn trên đây, phù hợp với bản phúc trình Favin-Levêque gửi Bộ trưởng Hải quân, ngày 9-4-1843, với nội dung thổi phồng việc ông ta nghe nói có 5 giáo sĩ bị «tra tấn dã man» nên đã tự tiện đến Đà Nẵng «giải cứu» cho 5 giáo sĩ «bị tử hình», mà không ai nhờ: Hội Thừa Sai cũng không và chính phủ Pháp cũng không. Favin-Levêque viết: «Ở Macao, tôi nghe ông Libois, Quản lý Hội Thừa Sai của tỉnh này, nói rằng nước Nam đang đàn áp dã man các giáo sĩ. Hiện có 5 người bị tù, cùm chân, đóng gông, bỏ đói, ở Huế từ hai năm nay, họ bị tra tấn dã man tàn bạo. Tất cả đều bị tra tấn và bị án tử hình. Toà xử lại, vẫn y án. Nhưng nhà vua tạm thời hoãn thi hành bản án. Tuy vậy, khi tôi đến Đà Nẵng, nghe đồn các quan đang vận động ráo riết để kết thúc số phận những kẻ vô phúc này. Tuy không nhận được lệnh và cũng biết rằng những thuyền trưởng khác không can thiệp, nhưng tôi không đành lòng nhìn năm người hoạn nạn có thể bị hành hình trước quốc kỳ nước họ. Tự tin ở lòng trong sạch của mình và nhất là ở lòng khoan hồng vô bờ của Hoàng đế Pháp, tôi đã nhân danh Người để đòi trả tự do cho họ và đưa họ về Pháp.» Sau đó ông kể công: Với nhiều khó khăn và với lòng «kiên định», tôi [Lévêque] đã gửi được thư tới Huế [Vì không có thông ngôn, tôi phải khoa chân múa tay ra hiệu. Quan trấn thủ Đà Nẵng không chịu nhận thư, nên trước khi xuống ca-nô, tôi đã nhét lá thư vào túi quan đeo bên mình «như người ta bỏ thư vào hộp thư»]. Qua những «khó khăn vất vả», Favin-Lévêque đã «tháo gỡ» được cho 5 giáo sĩ: Berneux, Gally, Charrier, Miche và Duclos. Nhưng họ vừa được thả, Giám mục Singapour lại muốn đưa ngay cả 5 người này trở lại nước Nam, Favin-Levêque cực lực phản đối, vì trái với những điều ông đã hứa hẹn [với các quan] nhân danh Pháp hoàng [Louis-Philippe]. Miche và Duclos được lệnh đi Poulo-Pinang, mặc dù đã thề danh dự với Favin-Levêque là không tìm cách trở lại nước Nam, nhưng họ vẫn cứ trở lại.[16]
Favin-Levêque trực thuộc đội hải quân ở đảo Réunion, thuộc Ấn Độ Dương, không có phân sự gì ở biển Đông, thuộc Thái Bình Dương, nhưng chỉ cần «nghe nói» nước Nam đang đàn áp dã man các giáo sĩ, «nghe đồn» các quan đang vận động ráo riết để kết thúc số phận những kẻ vô phúc này; nên mặc dù không nhận được lệnh và cũng biết rằng những thuyền trưởng khác không nhúng vào, ông ta vẫn «can thiệp». Tóm lại, Thiếu tá Favin-Lévêque, mới chỉ nghe những tin đồn, đã tự ý đến «giải cứu» 5 giáo sĩ «bị tử hình», mặc dù không ai sai bảo hay nhờ cậy. Và những giáo sĩ này, ngay sau khi được «giải cứu», đã tức khắc tìm cách quay lại Việt Nam.
Thông lệnh của vua Thiệu Trị gửi Favin-Lévêque (Dịch lại bản do 5 vị giáo sĩ được tha, dịch từ chữ Nho sang tiếng Pháp) Ngày 12-3-1843 "Theo bản phúc trình của quan tổng đốc Nam Ngãi... vừa có một chiến hạm Pháp đến Đà Nẵng do ông Lévêque điều khiển. Vị chỉ huy đã kính cẩn đòi trả tự do cho những kẻ bị tù ở đây vì tội lén lút trốn trong dân chúng, đánh lừa người dốt nát, hành động trái với luật nhà nước. Tội của họ không kể xiết. Được biết họ vẫn bị cùm, vua nước họ gửi một sĩ quan [Lévêque] đến lễ phép van nài (supplier humblement) lòng từ tâm vô bờ, và xin hoàng đế gia ân. Quan tổng đốc, sau khi suy nghĩ kỹ, nhìn nhận lời lẽ của vị chỉ huy thực sự khiêm tốn và kính cẩn, xứng đáng bẩm lên vua. Vì lòng nhân ái, vua đã ra lệnh ân xá cho 5 người này... họ được tháo cùm, dẫn ra Đà Nẵng, để đưa về xứ... Luật của vương quốc đường hoàng, sáng suốt, công bằng và nghiêm khắc... Nếu người ngoại quốc nào muốn đến đây buôn bán, thì phải đậu tầu ở vịnh Đà Nẵng, đến trình diện quan sở tại, viên quan này sẽ bẩm lên Thượng thư bộ Thủy quân. Rồi mới được phép buôn bán; điều này không cấm. Nhưng 5 kẻ kia dám lén lút trà trộn vào dân chúng, trốn để đánh lừa những kẻ dốt nát, đó là điều tuyệt đối cấm, không xứng đáng được hưởng khoan hồng. Tuy nhiên, vì 5 người Âu này chỉ mới đến, chưa kịp hiểu rõ luật pháp ở đây, vì lòng trắc ẩn, ta không nỡ gia hình, mặc dù bị giam đã lâu, vẫn còn lành mạnh. Vua của họ sẽ thấy triều đình xử thực sự công bằng..." Ngày 12, tháng 3, năm 1843, năm Thiệu Trị thứ 3.[17] Những lời trên đây của vua Thiệu Trị làm sáng tỏ mấy vấn đề: - Triều đình luôn luôn cho người ngoại quốc vào buôn bán, nhưng các tầu Tây phương phải đậu ở vịnh Đà Nẵng. [Nguyên nhân: Năm 1812, tầu chiến Anh tên là Ốc-Luân (Thực Lục phiên âm) tới “đòi nợ” cho công ty Abbott Mailland của Anh ở Ấn Độ (nhưng vua Gia Long đã trả từ năm 1807, còn giữ hoá đơn). Tàu Anh đe dọa sẽ trở lại với “một hạm đội phủ kín mặt biển”, “đổ bộ 20.000 người” để trừng trị.][18] Từ đó vua Gia Long phòng bị người Âu, và hạ lệnh cho các tầu Tây dương vào buôn bán phải đậu ở cửa biển Đà Nẵng để dễ bề kiểm soát. - Lá thư của Favin-Lévêque lời lẽ lễ độ, được trình lên và vua Thiệu Trị đã ân xá. - Không có chuyện Favin-Lévêque "hăm dọa cắt đứt cuộc thương thuyết nếu không trả tù nhân, và tuyên bố sẽ đem tầu tới cửa sông Hương, rồi từ đó đến thẳng thủ đô bằng bất cứ cách nào" như lời tờ báo Revue Coloniale. - Những người bị bắt không được triều đình coi là thày tu, mà chỉ xem là người Âu, vào trái phép, nên bị giam giữ, không hề có chuyện kết án tử hình.
Giám mục Lefèbvre (1810-1865) Giám mục Lefèbvre là khuôn mặt điển hình của giáo sĩ Gia Tô: trung thành với sứ mệnh truyền giáo. Nhận nhiệm vụ trốn vào Việt Nam, bị bắt nhiều lần, nhưng vẫn tìm mọi cách trở lại. Giám mục Lefèbvre còn là cái cớ mà hải quân Pháp dùng để đến xin tha nhưng làm việc khác: đến để tấn công, bắn phá, tiêu diệt năm chiếc tầu chiến bọc đồng của Việt Nam, ngày 15-7-1847, rồi bỏ đi. Đây là trận chiến đầu tiên.
Dominique Lefèbvre (1810-1865) sinh ngày 1-8-1810, tại Calvados, Pháp. Được Hội Thừa Sai Paris phong linh mục tháng 12-1834. Lên đường truyền giáo ngày 15-3-1935. Trốn vào miền Bắc Việt Nam, học tiếng Việt với Cha Borie, nhận nhiệm vụ xuống miền Nam, sống trốn tránh, được Giám mục Cuénot chọn làm trợ Giám mục. (Xin nhắc lại:Vua Minh Mạng chính thức cấm giáo sĩ vào Việt Nam từ năm 1825). Lefèbvre được phong Giám mục d'Isauropolis tại Gò Thi ngày 1-8-1841. Ngày 31-10-1844, có người tố giác, Giám mục bị bắt lần đầu ở gần Cái Nhum, nơi ông đã xây dựng một tu viện Dòng Mến Thánh Giá (un couvent des Amantes de la Croix). Bị kết án tử hình, nhưng vua Thiệu Trị hoãn thi hành bản án. Trong tù, ngày 1-4-1845, Lefèbvre gửi thư cầu cứu, đến tay thuyền trưởng Mỹ Percival, ông này chuyển cho đồng minh Pháp. Ngày 15-5-1845, Đô đốc Cécille ra lệnh cho Fornier-Duplan chỉ huy chiến hạm Alcmène đến Đà Nẵng cầm thư của Đô đốc đòi thả vị chủ giáo.[19] Giám mục Lefèbvre được tha tháng 6 năm 1845. Một năm sau, Lefèbvre bị bắt lần thứ hai, ngày 8-6-1846 tại cửa sông Sài Gòn, bị coi là vào để kích động giáo dân nổi loạn chống triều đinh, bị đưa về Huế, giam vào Thừa Phủ, và bị kết án tử hình, lần thứ hai. Nhưng vua Thiệu Trị vẫn khoan hồng, không thi hành bản án, và ngày 9-2-1847, vua lại sai người dẫn độ Lefèbvre đi Singapour, giao cho nhà chức trách Anh. Gần hai tháng sau, ngày 15-4-1847, hai tầu chiến Pháp La Gloire và La Victorieuse mượn cớ cứu Giám mục Lefèbvre, tiến vào Đà Nẵng, bắn chìm 5 tầu chiến bọc đồng của vua Thiệu Trị, rồi bỏ chạy, không quan tâm gì đến số phận của Lefèbvre. Điều này chứng tỏ: có thể họ đã biết Giám mục Lefèbvre được thả từ ngày 9-2-1947, nhưng đến ngày 15-4-1947, họ vẫn tấn công. Ngày 3-5-1847, vị Giám mục lại rời Singapour để trốn vào Việt Nam lần thứ ba. Lần này Lefèbvre thành công, vào được miền Nam, ở lại bẩy năm. Năm 1864, bệnh nặng, ông phải về châu Âu. Sau một thời gian ngắn ở Roma, Giám mục qua đời tại Marseille ngày 30-4-1865.
Thư đô đốc Cécille gửi vua Thiệu Trị xin tha Giám mục Lefèbvre Singapour, tầu Cléopatre, ngày 15-5-1845, "Tâu Bệ hạ, tôi được biết, do lệnh của Bệ hạ, Đức Giám mục Lefèbvre đã bị bắt ở Nam kỳ, bị cầm tù trong vương quốc và đạo Thiên chúa lại mới bị tàn sát nữa. Không dám phê phán lệnh của Đại vương Thiệu Trị, tuy nhiên, tôi mạn phép, vì lợi ích của triều đình cũng như của nhân loại và pháp lý, thành khẩn tâu mấy nhận xét riêng để Bệ hạ xem, hy vọng làm loé lên ánh sáng chân lý trong tâm trí Bệ hạ. Dường như Ngài không biết rằng cái đạo mà Ngài truy nã kịch liệt, đã được tất cả các bậc đế vương và các dân tộc Âu Châu thọ giáo, rằng đạo này quy định trước tiên sự công bằng và độ lượng, dạy các bậc đế vương coi thần dân như con, dạy dân vâng lệnh người trên, tôn trọng luật pháp, quên chửi rủa, yêu người, kính trọng và vinh danh cha mẹ, giúp đỡ và an ủi nhau trong niềm bất hạnh, nói tóm lại, rằng những khái niệm cơ bản của đạo chúa cứu thế này đặt trên những nguyên tắc đạo đức trong sạch nhất, cao cả nhất và lành mạnh nhất. Nhà vua chẳng lẽ đã quên rằng nhờ người công giáo Pháp mà ông tổ Gia Long, anh linh vẻ vang của Ngài, đã khôi phục được ngôi báu?... Ở thời điểm đáng nhớ này, đạo thiên chúa được (tự do) truyền giảng ở nước Nam và phần đông dân chúng đã theo đạo mà không bị buộc tội phạm luật? Vậy ngày nay trừng phạt những đứa con đã theo đạo của cha mình, thì có đúng không? Chẳng lẽ nhà vua thẳng tay hạ lệnh giết từ 5 đến 600.000 thần dân theo đạo không chút sờn lòng, biến những kẻ chỉ muốn kính trọng và quý mến Ngài thành kẻ thù, nếu như họ không được phép tự do giảng cái đạo mà họ quý trọng hơn cả tính mệnh? Với tất cả lòng thành, tôi khuyên nhà vua nên suy nghĩ kỹ, bởi tiếng kêu của những người tử vì đạo đã thấu tâm can những người anh em bên trời Âu, nổi lên một tình cảm phổ quát căm phẫn đòi báo oán. Nước Pháp xưa nay vẫn là bạn của vua nước Nam. Lúc tai biến, Gia Long còn vô danh, đi lang thang, bị truy nã trong xứ; đã đặt kỳ vọng về phương Tây và vua nước Pháp Louis XVI đã vội vàng ký một hiệp ước tương trợ ông hoàng này và một phần nhờ vào hành động chính trị này mà tổ tiên ông mới lấy lại được ngai vàng. Nước Nam bị những nước hùng mạnh đầy tham vọng và ganh ghét bao vây, sớm muộn gì rồi nền độc lập cũng bị đe dọa. Nếu rơi vào cảnh khốn cùng, chỉ một lời cầu cứu nước Pháp sẽ là cái phao cứu vớt vua nước Nam.... Bệ hạ có thấy chính sách lãnh đạo bị cả chính trị và nhân đạo kết án ấy chỉ có thể do những cố vấn xảo quyệt và ngu dốt đưa ra để chiếm hữu của cải tịch thu của các nạn nhân. Phải chăng trong khi Hoàng Đế Trung Quốc vừa cho phép thần dân được tự do theo đạo Gia Tô trên đế quốc mênh mông của ông ta, thì đại danh Thiệu Trị lại hạ lệnh truy lùng giáo dân ở nước Nam một cách dã man tàn bạo chỉ thấy ở những dân tộc không biết nghiã cử và văn minh là gì? Vì hành động công minh này mà Thiên Hoàng được các dân tộc Tây phương biết ơn, thần dân yêu mến và tận tụy trung thành. Học gương Thiên Hoàng mới xứng đáng là một ông vua lớn. Sau khi, trình bày những nhận xét của một chính khách và một người công giáo để nhà vua công bằng soi xét; tôi, nhân danh Tư lệnh Hải quân Pháp, có trách nhiệm bảo vệ đồng bào tôi ở vùng đất này, đòi hỏi nhà vua trả tự do cho Giám mục Lefèbvre... Tôi yêu cầu nhà vua trao Giám mục cho chỉ huy Fornier- Duplan, thuyền trưởng tầu Alcmène, người cầm lá thư này, và bảo đảm trước với nhà vua là hành động khoan hồng này sẽ được Pháp hoàng hết sức tán thành. Tôi hân hạnh..."[20] Giọng điệu "bề trên" răn đe "kẻ dưới" của lá thư, bộc lộ những yếu kém kiến thức và trình độ ngoại giao của vị Chỉ huy Hải quân Pháp ở biển Đông: 1- Những điều trong thư hoàn toàn sai sự thực: Nguyễn Ánh có giao hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Louis XVI có ký thoả ước trợ giúp, nhưng hoà ước không được Pháp thi hành, sau đó xẩy ra cách mạng 1789, Louis XVI bị lật đổ. Sống gần thời điểm lịch sử này và là Tư lệnh quân đội viễn chinh mà Cécille mà không biết những thông tin này, hoặc biết mà lờ đi, thì thật là kém cỏi. 2- Không ai viết thư xin điều gì mà lại có giọng trịch thượng và hách dịch đến thế. Nếu muốn khuyên vua Thiệu Trị nên làm như vua nhà Thanh, thì ít nhất, cũng phải nói năng tử tế hơn. 3- Không biết Cécille dựa vào đâu để đưa ra con số 5 hay 600.000 người công giáo bị vua Thiệu Trị giết? Viết thư xin một đặc ân mà đưa ra những con số bịa đặt như vậy, làm sao có thể «xin» được? Lá thư của Cécille, mặc dù khi dịch sang chữ Hán đã được làm dịu đi, nhưng lời lẽ vẫn còn bịa đặt, hàm hồ. Nguyên văn tiếng Pháp, được gửi về Pháp, được in ra phổ biến rộng rãi trên báo chí đương thời. Theo Taboulet, Đại sứ Pháp ở Trung Hoa, Théodore de Lagrené, thận trọng, để Cécille lo việc xin thả Giám mục Lefèbvre. Lagrené thú nhận rằng, vì không có chỉ thị nào của chính phủ Pháp về việc này, ngôn ngữ sử dụng phải cực kỳ tế nhị; mềm dẻo quá sẽ tỏ mình bất lực, đe dọa mà không làm sẽ là bất cẩn. Đô đốc Cécille, với lối "xảo quyệt" của người Normandie (en rusé Normand), đã xoay xở xong cả hai mặt của vụ này. Theo Lagrené, tầu chiến Pháp còn nhiều việc khác phải làm chẳng hơi đâu mà can thiệp mãi vào việc những giáo sĩ có "truyền thống tử vì đạo", ông viết trong một báo cáo: "Chính phủ hoàng gia, phải hoàn toàn đứng ngoài các cuộc viễn chinh thập tự, được tổ chức dưới lệnh độc nhất của giáo đình La Mã, mà chẳng hỏi han gì đến chúng ta". Ngoài ra, Đô đốc Cécille cũng khiển trách nặng nề, hai người trong số những giáo sĩ được tầu Héroine đến đón trước đây, đã trở lại nước Nam, và như vậy là phạm vào những điều thuyền trưởng Favin-Levêque hứa với các quan. Cécille kinh tởm (avec répugnance) việc gửi tầu Alcmène đi Đà Nẵng, chẳng phải là để giải thoát giám mục Lefèbvre mà để thông báo cho vua nước Nam biết sự cởi mở của Thiên Triều [nhà Thanh] đối với đạo chúa, hy vọng Huế sẽ chịu noi cái gương đến từ trên cao như thế. Về việc John Percical tư lệnh thủy quân Mỹ ở biển Đông, chỉ huy tầu Constitution, đến Đà Nẵng vài ngày trước tầu Alcmène, nhân danh «lòng nhân đạo», đòi thả Giám mục Lefèbvre, không được toại ý (vì Huế tuyên bố chỉ trao vị Giám mục cho người Pháp) nên viên chỉ huy Mỹ quát tháo đe dọa om sòm khi rời Đà Nẵng. Chính phủ Mỹ phủ nhận hành vi của Perceval, mùa thu 1849 gửi Balestier, cựu lãnh sự Mỹ ở Singapour đến Đà Nẵng cáo lỗi với triều đình Huế hành động khinh suất của vị chỉ huy tầu Constitution. Viên quan đầu tiên mà Fornier-Duplan gặp tại Đà Nẵng là một người khoảng độ lục tuần, nét mặt linh hoạt, tên Lé van Phoc [Lý Văn Phức], ngày trước đã quen biết Chaigneau và Vannier [hai người Pháp làm quan dưới triều Gia Long]; ông Phức thế chỗ một trong hai ông kia; có lời thăm hai vị quan người Pháp và hỏi họ có tính trở lại nước Nam không. Những sĩ quan Pháp đã tàn sát ghê gớm (une hécatombe) đoàn khỉ sống trong rừng trước vịnh Đà Nẵng.[21]
Lefèbvre được tha lần thứ nhất, tháng 6-1845, theo hồi ký Haussman Auguste Haussman, thương gia và nhà ngoại giao, có một cái nhìn độc lập với chính giới Pháp đương thời, trong cuốn hồi ký Voyage en Chine, Cochinchine, Inde et Malaisie, 1848, (Chuyến đi Trung Hoa, Việt Nam, Ấn Độ và Mã Lai, 1848), ông viết: ... "Ngày 8-5-1845, chúng tôi ở Singapour. Tại đây, thuyền trưởng tầu Alcmène nhận lệnh đi Đà Nẵng đem thư của Đô đốc Cécille, dịch ra Hán văn, xin thả một vị giám mục Pháp, Lefèbvre, đang bị giam tại Hué-fou [Thừa Phủ, Huế]... Ngày 16-5, chúng tôi chia tay với một phần phái bộ ngoại giao, cùng hai bạn đồng hành mới, ông Itier và Lavollée tiến về bờ biển nước Nam. Ngày 31-5 chúng tôi vào vịnh Đà Nẵng... Hải cảng Đà Nẵng là một trong những cửa biển chắc chắn và được phòng bị kỹ nhất Viễn đông. Nhiều nhà văn Anh không ngần ngại gọi Đà Nẵng là Gibraltar của châu Á... Chúng tôi vồn vã chào Đà Nẵng bằng ba phát đại bác; thành đồn trên đồi thủng thẳng bắn chào lại. Vài giờ sau, một số người Nam, bề ngoài coi bộ ốm o, nghèo nàn, có lẽ là cảnh sát được cơ quan thẩm quyền sở tại gửi đến xem chúng tôi muốn gì. Họ có vẻ lo lắng về sự hiện diện của chúng tôi, và qua thứ tiếng Anh khá dở, họ hỏi lý do nào dẫn chúng tôi đến đây. Viên thuyền trưởng giải thích là ông ta đem thư đến trình vua nước Nam và ngày mai sẽ trao cho quan sở tại. Một chiến hạm Mỹ đã đến Đà Nẵng cách đây mấy ngày. Vị Giám mục bị giam, hay tin có thuyền Tây phương vào bến cảng, tưởng đó là chiến thuyền Pháp, nên đã viết thư gửi thuyền trưởng. Vì lòng hào hiệp, Trung tá hải quân Mỹ tìm cách giải cứu Đức Giám mục và đây là cách ông ấy làm: Vua gửi lên tầu ba, bốn ông quan; thuyền trưởng bèn bắt luôn làm con tin để đòi chuộc giáo sĩ. Hay tin, vua nổi trận lôi đình, không cho thả vị Giám mục trước lối hành xử như vậy! Nghe đâu nhà vua còn tức tốc gửi ngay một hạm đội nhỏ tấn công chiến hạm Mỹ, may mà có bão, làm tản mát hạm đội của nhà vua. Chịu thua, người Mỹ bèn thả con tin, nhưng khi về đến Kinh, thì bọn họ lại bị tù một lần nữa vì tội đã vụng về để cho bị bắt". "Ngay tối hôm đó, chúng tôi viếng một đảo nhỏ gần chỗ tầu đậu, thấy một cái miếu con trên có bài vị thờ, đề tên: Erigone, 1843 [Erigone là chiến hạm Pháp, do Cécille điều khiển những năm 1841, 42, 43]... Đảo không có người ở. Ngày 1-6, thuyền trưởng Fornier-Duplan và đoàn tùy tùng xuống tầu đưa thư cho quan sở tại. Vị quan này [Lý Văn Phức] hứa là bức thư sẽ được đưa về triều trong vòng 20 tiếng đồng hồ... Nước Nam dùng người chạy thư... Sau khi thuyền trưởng trở về tầu, một buổi đi săn được tổ chức, chúng tôi rời tầu, không ghé vào thành phố, mà ghé vào phía núi đá lân cận. [Chính trong cuộc đi săn này, các sĩ quan Pháp đã tàn sát hằng hà sa số khỉ trên vùng núi chế ngự cửa biển Đà Nẵng][22] Ở bờ vắng này, có mồ chôn một sĩ quan Pháp trong đoàn thám hiểm Entrecasteaux được gửi đi tìm tầu Lapérouse [Lapérouse được vua Louis XVI gửi đi thám hiểm vùng Thái Bình Dương, năm 1783, mất tích năm 1788]... Năm giờ sáng hôm sau, chúng tôi vào kênh lớn để thăm thành phố Tourane [Đà Nẵng) mà người bản xứ gọi là Hane [Hàn, hay Cửa Hàn], người Pháp ghép thêm chữ Tour vào thành Tourane, vì ngày trước có một cái tour [tháp] đặt trước cửa bể. Chúng tôi lên bờ chỗ sát cạnh ngôi chùa mà thuyền trưởng đã gặp vị quan sở tại bữa trước... Những người lính... bắt đầu chạy theo chúng tôi cản đường, bằng cách lấy thương chặn chéo nhưng chỉ với ý đe dọa chứ không muốn đả thương, bởi họ biết chúng tôi được đại bác trên tầu Alcmène bảo vệ... Một vài cú gậy đánh trúng, mau lẹ mở đường cho chúng tôi, cả một đội quân Nam nhường chỗ cho tám người Pháp không khí giới đi qua. Chịu thua, anh sĩ quan khốn khổ tay cầm đũa đen, đánh động lòng trắc ẩn của chúng tôi, bằng cách ra hiệu, nếu chúng tôi đi xa hơn nữa, thì anh ta sẽ bị mất đầu. Để anh khỏi bối rối, chúng tôi sai một người phiên dịch đến xin phép được thăm ngôi đền trước mặt, và họ vui lòng cho phép ngay. Từ một ngọn đồi, chúng tôi nhìn thấy rõ thành Đà Nẵng kiến trúc kiểu Tây, theo họa đồ mà những sĩ quan Pháp ngày trước đã vẽ [...] Ngày 4-6, một người Việt có đạo đến gần bến tầu trao lại cho một thủy thủ lá thư của ông Giám mục bị giam, nhưng có người cảnh sát nhìn thấy, tịch thu lá thư và kẻ đưa thư bị đánh đòn. Sau đó nghe nói anh ta bị chặt đầu... Ngày 6-6, thuyền trưởng được mời đến hội đàm với vị quan già vừa ở Kinh ra, tại ngôi chùa gần chỗ tầu đậu, ông đi kiệu sang trọng, đỉnh kiệu hình mai rùa; tay cầm thẻ bài ghi tước vị của ông. Vị quan này báo cho thuyền trưởng biết rằng khi ông trở về Kinh, vị Giám mục Pháp sẽ được tha và dẫn đến Đà Nẵng. Cùng ngày hôm đó, tàu Alcmène nhận được nhiều quà của vua... Thủy thủ đoàn rất phấn khởi vì sự rộng rãi của vua nước Nam... ... Ngày 12-6 [1845] Giám mục Lefèbvre được vua tha và gửi đến chúng tôi bình an vô sự. Ông đi từ Huế ra Đà Nẵng bằng võng cáng... Đức Giám Mục mặc chiếc áo chùng lụa tím, đầu đội nón, chòm râu đen dài. Nét mặt hãy còn trẻ, nhưng đã mang vết phong trần, dáng đi khó khăn, chứng tỏ ông bị xiềng chân; nhưng ông nói trong số những tu sĩ bị bắt, chỉ có ông là không bị đánh roi mây. Sự trở về của vị chủ giáo trên tầu Alcmène chấm dứt nhiệm vụ của vị thuyền trưởng đã hoàn tất khéo léo và nhanh chóng".[23]. Giám mục Lefèbvre được trao cho thuyền trưởng Alcmène với bản giải tội, thông báo cho vị chủ giáo biết việc được thả bằng những dòng: "Hoàng đế nhận thấy, vì là người ngoại quốc, ông đã không biết rõ luật cấm đạo. Vì vậy, ngài khoan hồng gửi ông về với vua nước ông. Ngài nể trọng ông và cấp cho ông quần áo và tiền bạc".[24]. Cuốn Voyage en Chine, Cochinchine, Inde et Malaisie, 1848 của Auguste Haussman, được đánh giá là có những nhận xét xác thực, khác với ý kiến của những người đương thời. Những sự kiện ông phản ảnh trên đây chứng tỏ điều đó. Ngoại trừ câu thành Đà Nẵng kiến trúc kiểu Tây, theo họa đồ mà những sĩ quan Pháp ngày trước đã vẽ cho thấy sự chủ quan của ông và cũng là bệnh chung của người Pháp: thấy bất cứ chỗ nào có thành trì vững chắc thì cho rằng do Pháp xây. Haussmann cho ta biết những chi tiết bổ ích, liên quan đến những sự kiện xẩy ra thời ấy: 1- Tầu Pháp Erigone hoặc tầu của đoàn thám hiểm d'Entrecasteaux (1791-1794) đi tìm tầu Lapérouse bị mất tích, đều đã ghé vào Đà Nẵng. Việc có miếu thờ nói lên lòng nhân đạo của dân cư ở đây. 2- Haussmann chép rõ việc triều đình tiếp tầu ngoại quốc. Taboulet cho biết thêm: "Ông quan đầu tiên Fornier-Duplan gặp tại Đà Nẵng là một người khoảng độ "lục tuần" nét mặt linh hoạt, tên Lé van Phoc [Lý Văn Phức], ngày trước đã quen biết Chaigneau và Vannier [hai người Pháp làm quan dưới triều Gia Long]; ông Phức thế chỗ một trong hai ông kia; gửi lời thăm hai vị quan Pháp và hỏi xem họ có tính trở lại nước Nam không.[25] 3- Lý Văn Phức (1785-1849) thường được cử ra tiếp người ngoại quốc, ông quê Hà Đông, đỗ cử nhân năm 1819, được bổ làm Hàn lâm biên tu ở Sử quán. Ông là nhà thơ nổi tiếng, đã được vua Minh Mạng cử đi sứ ngoại quốc nhiều lần [Tân Gia Ba (Singapour), Phi Luật Tân,...] ông ghi lại những hành trình này, đặc biệt trong tập Đông hành thi thảo, khi thuyền của đoàn sứ giả sang Phi Luật Tân năm 1832, qua quần đảo Trường Sa, ông đã làm bài thơ nổi tiếng Vọng kiến Vạn lý Trường Sa tác. Khi tiếp Fornier-Duplan tháng 6-1845, ông là Hiệp trấn Quảng Nam. Khi tiếp Lapierre và Rigault de Genouilly tháng 4-1847, ông giữ chức Tả tham tri bộ Lễ. 4- Về cách hành xử của Perceval, Taboulet nói thêm: Khi rời vịnh Đà Nẵng, viên chỉ huy Mỹ la hét, quát tháo, lớn lối hăm dọa. Thái độ này bị nhà cầm quyền Mỹ phủ nhận, nên mùa thu 1849, chính phủ Mỹ gửi Balestier, cựu lãnh sự Mỹ ở Singapour đến Đà Nẵng, tạ lỗi với triều đình Huế về sự bất nhã của viên tư lệnh. [26] 5- Lá thư trịch thượng của Cécille và thái độ "côn đồ" của Perceval, sau này sẽ còn được những vị chỉ huy tầu Pháp lập lại nhiều lần, đó là một trong những lý do khiến các vua Thiệu Trị, Tự Đức và các quan trong triều, coi người Âu là "man di" và "trí trá", không thể tin được. 6- Theo Taboulet: "Vị khâm sai đến Đà Nẵng ngày 6-6-1845 tiếp Fornier-Duplan là Nguyễn Khắc Thuận [Phan Khắc Thận], trấn thủ Quảng Nam, có Nguyễn Trương (quan tứ phẩm), tháp tùng. Nguyễn Trương đã từng ở trong phái đoàn ngoại giao do vua Minh Mạng gửi sang Pháp năm 1840. Fornier-Duplan nói với quan khâm sai rằng: Lý Văn Phức đã hứa sẽ tâu vua xin cho giáo dân, và vua Trung Hoa cũng vừa ban hành lệnh này. Quan khâm sai trả lời như sau: "Chỉ có 4, 5 ông quan được quyền nói chuyện với vua và nếu không muốn mất đầu thì đừng tâu xin những điều trái với luật triều đình. Mặc dầu tất cả chúng tôi đều muốn cho giáo dân được tự do, nhưng tôi nghi chẳng ai dám tâu vua điều đó". Fornier-Duplan nói thêm: "Câu trả lời này làm tôi sợ lá thư của Đô đốc Cécille không đến tay vua".[27] Về vụ này, xin có mấy nhận xét: - Theo Thực Lục, các quan có thái độ bảo thủ hơn vua về việc cấm đạo: Tất cả những vụ án các giáo sĩ ngoại quốc bị bắt, do Bộ Hình tuyên án tử hình, vua Thiệu Trị đều truyền "hãy tạm giam giữ lại". Rồi sau vua cho người dẫn độ sang Singapour hoặc trả cho các tầu đến xin tha. - Lý Văn Phức không thể giấu thư mà không đưa cho vua. Chỉ cần đọc một đoạn Thực Lục viết về một vụ tương tự, xẩy ra hai năm sau, khi Đại Tá Lapierre, tháng 4-1847, đưa thư cho Lý Văn Phức, lời lẽ hỗn hào, Phức không nhận, y bèn quát tháo dọa nạt, ném thư xuống bàn rồi đi. Lý Văn Phức bàn với Nguyễn Đình Tân: "Nhận lấy thư là có tội, mà đốt thư đi cũng có tội", Phức cho người chạy trạm đem thư về triều, rồi về chịu tội. Quả nhiên, khi về, Phức bị bắt đóng gông chờ đình thần xét xử tội làm mất quốc thể. - Thái độ côn đồ của Perceval đã được vua xử nghiêm, chứng tỏ Việt Nam không phải là một nước mà người Tây phương có thể đàn áp dễ dàng. - Lá thư của Cécille lời lẽ ngông cuồng, vua Thiệu Trị đọc mà vẫn khoan hồng thả Giám mục Lefèbvre, điều này chứng tỏ, vua không chấp thái độ vô lễ và thiếu hiểu biết của viên Tổng tư lệnh Hải quân Pháp ở biển Đông. - Chuyện chỉ có 4 hay 5 người được quyền nói chuyện với vua khá phiến diện. Dĩ nhiên chỉ có một số quan đại thần được bàn bạc thường xuyên với vua, góp ý kiến về những việc cơ mật, và cuối cùng vua quyết định, nhưng mọi việc không đơn thuần như thế: Dưới triều Nguyễn, vua trực tiếp cai trị, nhưng không phải vua muốn làm gì cũng được. Về luật pháp, có sự phân quyền rõ rệt: vua không có quyền sinh sát, mọi việc phải qua sự điều tra của Bộ Hình, rồi chiếu theo điều luật mà xét xử; nhiều khi vua muốn định tội nặng hơn, nhưng các quan phụ trách xét thấy không đúng luật, cũng bác bỏ. Chính vua Tự Đức đã có lần bị các quan đàn hạch, phải nhận lỗi. Nhưng vua là Tổng tư lệnh quân đội, tất cả mọi việc lớn nhỏ đều đến tay vua, đôi khi vua trực tiếp dặn dò chiến lược cho các quan văn, võ, lớn, nhỏ, như ta sẽ thấy trong những đoạn trích dẫn Thực Lục ở các phần sau.
Lefèbvre bị bắt lần thứ hai và được tha lần thứ hai (1846-1847) Taboulet viết: "Được tàu Alcmène giải thoát, Giám mục Lefèbvre coi như có bổn phẩn phải trở lại giáo phận của ông. Ngày 23-5-1846, ông lên tầu ở Singapour cùng với cha Duclos và 3 giáo sĩ ở Pinang. Bị những viên thanh tra quan thuế Việt, kiểm tra nạn thuốc phiện lậu, bắt ngày 8-6 ở cửa sông Sài Gòn, hai tu sĩ được "giấu ở gầm thuyền, đậy bằng 2 tấm ván, trên phủ muối". Ba ngày sau khi cha Duclos mất [vì bệnh sốt mê sảng và kiết lỵ] ở Sài Gòn, Đức Giám mục Lefèbvre bị giải ra Huế bằng đường biển. Vị chủ giáo được đối đãi đàng hoàng tuy là trường hợp tái phạm. Bị nghi ngờ trở lại để xúi giục giáo dân nổi dậy, vị chủ giáo đã biện hộ được cho mình. Bị kết án tử hình lần thứ nhì, nhưng vẫn được hưởng án treo. Thiệu Trị muốn đề phòng việc tầu chiến Pháp lại đến đòi thả, nên ngày 9-2-1847, đã cho người dẫn độ Giám mục Lefèbvre đi Singapour, giao cho nhà chức trách Anh. Nhân có lá thư của vua Thiệu Trị mà ông ta vừa nhận được, đại tá Butterworth, toàn quyền Anh ở Singapour, vội vàng lợi dụng cơ hội để can thiệp vào nước Nam. Ông ta buộc Giám mục hứa là không tìm cách trở lại nước Nam, trừ khi đi tầu Anh; và ông không ngần ngại tô vẽ với vị chủ giáo "tương lai tươi đẹp (mà ông ta sẽ cống hiến) cho những giáo sĩ ở nước Nam dưới sự bảo trợ chính thức của nước Anh. Đức Giám mục Lefèbvre, trang trọng khước từ ân huệ có mùi vụ lợi này; ông bảo ông không cần đến tầu Anh để trở lại nước Nam. Đức giám mục Lefèbvre, không ngã lòng. Tự coi là mình không có quyền từ nhiệm sứ mệnh giảng đạo, vị chủ giáo lại rời Singapour ngày 3-5-1847- đúng 18 ngày sau khi hai tầu chiến La Gloire và La Victorieuse giao chiến ở Đà Nẵng. May mắn hơn lần trước, năm 1846, lần này vị chủ giáo vào được miền Nam bằng một trong những nhánh sông Cửu Long. Ông sống trong Giáo khu của mình, hoàn toàn ẩn giấu. Năm 1850, ông được chia nhiệm vụ: Cao Mên trở thành một giáo khu tự trị, dưới quyền điều khiển của phó giám mục Miche. [Ông trông coi địa hạt Sài gòn]. Nhọc nhằn khổ não ảnh hưởng đến sức khoẻ của vị chủ giáo, Đức Giám mục Lefèbvre ốm nặng, phải trở về Pháp năm 1864. Sau thời gian ngắn ở Rome, ông mất tại Marseille ngày 30-4-1865".[28] Những lời này cho thấy Anh, Pháp không chỉ ganh đua về việc chiếm đất, chiếm của, mà còn cả về việc chiếm hữu đời sống tinh thần của người dân, bằng sức mạnh của đạo giáo.
Ghi chú của Giám mục Lefèbvre về việc ông bị bắt lần thứ hai Huế, 5-1-1847: «Ngày 23-5-1846, ông Duclos và tôi [Lefèbvre]... xuống thuyền ở Singapour để đến nước Nam, trên chiếc thuyền mà tôi đã thuê đóng từ hai năm trước... Thủy thủ đoàn toàn là người công giáo... Hải trình rất khó khăn đối với chiếc ghe nhỏ của chúng tôi... Ngày 6-6-1846 chúng tôi tới trước cửa bể Cangio [Cần Giờ]... sau khi vượt qua nhà đoan, chúng tôi thấy một chiếc thuyền đỗ trên hữu ngạn sông... Đó là chiếc thuyền đoan đứng rình... Chúng tôi bị dẫn về Gia Định... Thành phố Sài Gòn, ngày trước đã xây theo lối Tây, nhưng bị phá năm 1835 và được xây lại, trông hạ tiện lắm... Ngày 21-6 ông Duclos bị sốt mê sảng, làm tôi hoảng sợ... rồi thêm bệnh kiết lỵ... Ông Duclos về nước Chúa ngày 17-7... (Lúc ấy người ta mới đóng cùm sắt cho tôi và ngày 20-7, cho xuống tầu về Huế). Nhiều lần, Thiệu Trị gửi mật sứ đến hỏi tôi về cuộc chinh phạt Madagascar... Nhà vua sợ người Mỹ đến báo thù việc năm ngoái họ bị sỉ nhục vì chiến hạm của họ đến đòi thả tôi, nhưng vua không thuận [trao cho người Mỹ], khiến viên hạm trưởng [Mỹ] khi bỏ đi, đã tỏ thái độ rất phẫn nộ, làm dân chúng hoảng sợ. Thiệu Trị đã tố cáo hành động này cho người Anh ở Singapour. Nhà vua sợ rằng, họ định tấn công nước ông, nhưng dùng tên một xứ mà ông không biết [tức Madagascar]. Tôi cố gắng trấn an ông ta, nhưng thực tình, tôi không hoàn toàn thành công.[29] Ngại sẽ có tầu Âu châu đến ngay để xin thả tôi, nhà vua đã chấm dứt vụ án của tôi trong vòng 15 ngày... và chuẩn y án tử hình người lái thuyền.[30] Nhưng hoãn thi hành án lệnh của tôi, các thuỷ thủ và ba giáo sĩ... Chúng tôi được hưởng sự thận trọng và nhân từ của nhà vua nhờ chiến thuyền Pháp đến Đà Nẵng xin tha cho các giáo sĩ... nhất là Đô đốc Cécille, đã gửi họ đến. Chúng tôi đợi Đô đốc thân hành đến để hoàn tất công trình... toại ý Đức Thánh Cha...»[31]
(Còn tiếp) [1] Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển II, Bộ Giáo dục-Trung Tâm Học Liệu xuất bản, 1971, tập II, trang 242. [2] Quần đảo ở Polynésie, thuộc địa của Pháp. [3] Georges Taboulet, La Geste française en Indochine (Huân trạng của người Pháp ở Đông Dương), tome 1, Nxb Andrien-Maisonneuve, Paris, 1955, trang 351. [4] Taboulet, La Geste française en Indochine, tập 1, trang 352-153. [5] Ngày 2-6-1847, phong Thiếu tướng (Contre Amiral), ngày 23-12-1847, thăng Trung tướng (Vice Amiral). [6] Taboulet, La Geste Française en Indochine, tập 1, trang 360-361. [7] Ý nói hòa ước Versailles, do Bá Đa Lộc ký với de Montmorin ngày 28-11-1787, đã nói đến ở trên.
[8] Tầu Erigone đi từ Macao đến Đà Nẵng ngày 11-5 và ngày 8-6-1843 đi Manille. Tờ Revue Coloniale trích dẫn rộng rãi bản phúc trình của Cécille, trong tome 3, tháng 5 và 8-1844, trang 226-256. [9] Arch. Miss. Étrang. (Archives des Missions Etrangères), vol 139, texte inédit, in lại trong Taboulet, tập 1, trang 362. [10] Arch. Miss. Étrang. vol.139, texte inédit, in lại trong Taboulet, tome 1, trang 360-361. [11] Jean-Louis de Lanessan, L'Indochine française, étude politique, économique et administrative sur la Cochinchine [Đông Dương Pháp, khảo luận chính trị, kinh tế và hành chính về Đông Dương], Félix Alcan, Paris, 1889, t. 626. [12] Nước Pháp trong khoảng 1848-1870 có nhiều giao động: Thiết lập Đệ nhị Cộng hòa, chuẩn bị nền dân chủ. Khi Napoléon III lên nắm chính quyền, trở lại chế độ chuyên chế. [13] Taboulet, tập 1, trang 336. [14] Jurien de la Gravière, kế vị Lapierre, thuật lại chuyện này trong cuốn Voyage de la corvette La Bayonnaise dans la mer de Chine, (Chuyến đi của tiểu hạm dẫn đường La Bayonnaise ở biển Đông), Paris, 3e édition, tome I, p. 90; in lại trong Taboulet, tập 1, trang 370. [15] Revue Coloniale (Tạp chí Thuộc địa) tháng 12-1843, trang 572 và tháng Giêng năm 1844, trang 35-48, in lại trong Taboulet, Tập 1, trang 356- 357. [16] Taboulet, Tập 1, trang 357- 359. [17] Arch. Miss. Etrang, vol.749, p.843. Texte inédit; in lại trong Taboulet, tập 1, trang 359. [18] Xem Vua Gia Long và người Pháp, Thụy Khuê, trang 637-638. [19] Theo nhật ký của Fornier-Duplan, in trong Taboulet, tập 1, trang 362-363. [20] Archi. Aff. Etrang., vol. 304, p.1261), texte inédit (văn bản chưa in ở đâu), in lại trong La Geste française en Indochine, Taboulet, tome 1, trang 363-364. [21] Taboulet, tập 1, trang 366-367, chú thích số 1, 2, 3, 4 và 5. [22] Taboulet, tập 1, chú thích 5, trang 367. [23] Auguste Haussman, Voyage en Chine, Cochinchine, Inde et Malaisie, 1848 (Chuyến đi Trung Hoa, Việt Nam, Ấn Độ và Mã Lai, 1848), tome II, trang 372-395, in lại trong Taboulet, tập1, trang 364-366. [24] Taboulet, tập 1, chú thích số 7, trang 367. [25] Taboulet, tập 1, chú thích số 4, trang 367. [26] Taboulet, tập 1, chú thích số 3, trang 367. [27] Taboulet, tập 1, chú thích số 6, trang 367. [28] Quelques lettres de Mgr Lefèbvre, premier Evêque de Saigon francais [Vài lá thư của Giám mục Lefèbvre, Giám mục đầu tiên tại Sài Gòn thuộc Pháp] B.S. Et. Indo., 1943, Taboulet, tập 1, trang 368. [29] Chú thích (số 3) của Taboulet: Giám mục Lefèbvre kể lại từng câu ông bị hỏi cung, chân tay bị xích xuống đất, bên cạnh có người gác cầm roi, nhưng ông không bị đánh. [30] Chú thích (số 40) của Taboulet: Mathieu Gam là người Việt, con chiên nhiệt thành "dũng cảm, sẵn sàng hy sinh tính mệnh" cho tín ngưỡng, nhận trách nhiệm hiểm nghèo đi đón Đức Giám mục tại Singapour; nhất quyết không chịu bỏ đạo; bị chặt đầu tại Sài Gòn ngày 11-5-1847. Được Pie IX phong "đệ nhất đẳng thánh" (vénérable) ngày 27-9-1847. [31] Arch. Aff. Etrang., Mémoires et Documents, Asie, t.25. fol. 40-46, In lại một phần trong Ann. Propag. Foi, t. XIX, 1847, p.361 et sq., Taboulet, tập 1, trang 368-369.
|