Thụy Khuê

 Lịch sử truyền giáo và chữ quốc ngữ

Chương 14

 

Vua Tự Đức

Phần 1

 Chiêu bài “khai hóa” và “cứu đạo”

 

 Vua Tự Đức lên ngôi ngày 10-11-1847, trị vì 36 năm (1847-1883), vương nghiệp dài nhất triều Nguyễn và cũng là giai đoạn Pháp đánh chiếm và hoàn tất cuộc chinh phục nước ta. Cuộc chiến ấy bắt đầu như thế nào? Nước Pháp mượn cớ gì để cất quân chinh phục Việt Nam? Đó là những điều chúng tôi muốn tìm hiểu trong chương này.

 

Cuộc chiến bắt đầu dưới triều vua Thiệu Trị: ngày 15-4-1847, hai tầu chiến Pháp la Gloire và la Victorieuse do de Lapierre và Rigault de Genouilly điều khiển, bắn phá Đà Nẵng lần thứ nhất, tiêu diệt năm thuyền chiến bọc đồng, chủ lực của hạm đội triều đình, dẫn đến cái chết của vua Thiệu Trị bẩy tháng sau, ngày 4-11-1847, ở tuổi 40.

Cuộc xâm lăng tái hiện 9 năm sau, dưới triều vua Tự Đức: ngày 26-9-1856, tàu Catinat bắn phá Đà Nẵng lần thứ hai. Cuộc chiến kết thúc bằng hòa ước Giáp Thân (1884), ký sau khi vua Tự Đức qua đời: nước ta phải nhận cuộc bảo hộ của nước Pháp.

Một số nhà ái quốc nổi tiếng như: Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh... hoặc các sử gia như Trần Trọng Kim, Phan Khoang... thường kết tội triều đình Tự Đức làm «mất nước» vì không chịu «khai hoá», tức là không chịu học hỏi Tây phương để «tiến bộ», nên đã  thua Pháp.

Sự lên án này có phần dễ dãi và thiển cận, nhưng đã để lại dấu ấn như một cáo trạng có cơ sở.

Ngày nay, chỉ cần đặt một câu hỏi: Có thể «học hỏi» gì ở bọn người xâm lược?

- Nhờ họ dạy làm khí giới tối tân để chống lại họ chăng?

- Gửi học sinh sang Pháp du học chăng?

Kinh nghiệm nước Nhật cho thấy: nhờ đóng cửa với Tây phương trong hơn hai thế kỷ, nên Nhật Bản đã giữ được truyền thống văn hóa và chữ viết của họ. Các giáo sĩ không vào được để «khai hoá». Hai cường quốc Anh, Pháp không vào được để xâm lăng. Nhờ thế, Nhật Bản đã sớm hình thành một nhà nước tân tiến và dân chủ hàng đầu ở Á châu.

Nước ta, ngược lại, trong ba mươi năm chống Pháp, vua Tự Đức, dù muốn, cũng không thể phát triển được đất nước, bởi nó đã tan hoang vì chiến tranh. (Không nước nào có thể «phát triển» được trong điều kiện như thế). Và ta cũng không thể «giao thương» được với hai đại cường thời ấy là Pháp và Anh, để «học hỏi» bất cứ điều gì, vì đó là hai nước đầu sỏ, chủ trương đánh chiếm thuộc địa trên toàn cầu.

Tuy nhiên, mặc dù chiến tranh, triều đình Tự Đức vẫn tiếp tục việc nghiên cứu lịch sử, soạn hai bộ sách đồ sộ Đại Nam thực lục Đại Nam liệt truyện[1] là hai trước tác nền tảng của lịch sử triều Nguyễn. Nhờ hai bộ sử này, mà ngày nay chúng ta có thể so sánh những điều được sử gia Việt Nam ghi lại, để đối chiếu với những văn bản của sử gia thực dân.

Hiện nay sách lịch sử của chúng ta vẫn còn trống vắng giai đoạn Pháp thuộchiện đại, tức là đã hơn một trăm năm nay, ta chưa nối tiếp được công việc mà các sử gia triều Nguyễn đã làm.

 

Nghiã vụ «cứu đạo» và «khai hóa»

Nghiã vụ «cứu đạo» và «khai hoá» là hai cớ chính của cuộc xâm lăng, được sử gia thực dân trình bày như một «sứ mệnh bác ái»: quân Pháp đến để cứu giáo sĩ và giáo dân «đang bị đàn áp tiêu diệt» và đến để «dạy dỗ» một dân tộc «man di» bỏ «tà đạo» (Phật, Khổng, Lão) để theo «chính đạo» (Gia Tô).  Hai cớ này thường được tách rời khỏi đề tài truyền giáo, như thể các giáo sĩ chỉ là «nạn nhân», hoàn toàn «vô tư» trong cuộc xâm lược này. Sư thực không phải như thế. Chính các giáo sĩ là nguồn cội của tất cả. Họ là những người đến nước ta trước tiên, từ thế kỷ XVII, và chính họ đã đặt ra vấn đề «khai hóa».

Chữ khai hóa hay giáo hóa (civiliser), tuy chưa được phổ biến trong thế kỷ XVII, nhưng hai giáo sĩ đầu tiên Baldinotti và Alexandre de Rhodes, khi đến nước ta truyền giáo trong thế kỷ XVII đều nói đến sự giáo dục, dạy dỗ (enseigner, éduquer) một dân tộc bị lạc lối, cần được  kéo khỏi vòng «tội lỗi» để đưa về con đường «chính đạo». (Xem chương 4: Baldinotti và chương 5: Alexandre de Rhodes). Đối với các giáo sĩ: Phật, Khổng, Lão, đều là tà đạo; việc thờ cúng tổ tiên là tôn thờ ma quỷ, cần phải loại trừ.

 

Claude Gendre, trong cuốn La Franc-Maçonnerie mère du colonialisme, Le cas du Vietnam (Hội Tam Điểm mẹ đẻ chế độ Thực dân, Trường hợp Việt Nam) cho rằng:

"Khi chủ trương lật đổ mọi tín ngưỡng địa phương để thay vào đó tín điều của riêng mình, Giáo hội Công giáo đã đánh vào nền móng chính trị và xã hội của vương quốc Việt Nam và trở thành kẻ thù số một. Các giáo sĩ không hề giấu giếm: sự tàn phá tư tưởng Khổng Mạnh là điều kiện cần thiết cho tất cả mọi sự truyền giảng Phúc Âm"[2]

 

Thomazi, tác giả cuốn La conquête de l'Indochine (Cuộc chinh phục Đông Dương), ghi lại «công đầu» của các giáo sĩ :

«Ở An-Nam cũng như ở Xiêm, những người Pháp đầu tiên mà người ta thấy là những giáo sĩ. Cha Alexandre de Rhodes đến Nam kỳ năm 1624, sống 25 năm ở Nam kỳ và Bắc kỳ; mang về  Pháp bản đồ đầu tiên của xứ này, một quyển tự điển Việt-Bồ-La, một cuốn sử xứ Bắc kỳ, và báo cho biết có thể buôn bán được, ông viết: «Vùng đó có thể lấy được và nếu ta quyết định thiết lập cơ sở ở đấy, những nhà buôn châu Âu có thể tìm thấy một nguồn lợi phong phú để làm giàu».[3]

Điều này chứng tỏ Alexandre de Rhodes không chỉ truyền giáo mà còn do thám, để báo cáo cho chính phủ Pháp biết, nơi nào nên chiếm.

Tựu trung, từ thế kỷ XVII, các giáo sĩ Pháp đến nước ta, với hai nhiệm vụ:

- “Làm gián điệp” cho chính phủ Pháp: họ nhòm ngó, ghi chép bản đồ đất đai, tài nguyên để bẩm báo mối lợi với triều đình của họ. Thúc đẩy vua Pháp quyết định xâm lăng.

- “Làm “thày” cho dân tộc ta, họ công khai tuyến bố giáo dục, dạy dỗ, tức “giáo hóa”hay “khai hoá” (civiliser) dân tộc Đại Việt, một dân tộc có trình độ cao hơn họ, ít nhất về mặt đạo đức. Tham vọng này, chúng tôi đã chứng minh, trong chương 3, phần 4, là nó khôi hài ngay từ lúc ra đời.

Tuy nhiên, tham vọng «giáo hoá» của Giáo hội Công giáo vẫn sống dai dẳng và bền bỉ trong gần ba thế kỷ; đến thời kỳ Pháp thuộc (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX), được mở rộng, trở thành chính sách giáo hoá toàn bộ dân tộc Việt Nam bằng chế độ thực dân của chính phủ Pháp.

Rồi công ơn «khai hóa» lại được phần lớn giới trí thức bị trị đón nhận như một «ân huệ»: nếu có chống Pháp trên mặt xâm lăng, thì họ vẫn tin rằng nhờ Pháp cải tiến xã hội Việt Nam, nên chúng ta mới có ngày nay!

 

Tóm lại, «khai hoá» là sự chế tác ảnh ảo được người da trắng tạo ra để reo rắc niềm tin (sai lầm) vào não trạng người da màu, ở những nước họ đến chiếm, với những chân rết ung thư được trồng cấy, bám sâu vào đầu óc bị trị, là chúng ta, trong hơn một thế kỷ; truyền cho dân ta mặc cảm thua kém người da trắng, văn hoá của ta không có gì trước văn hoá Tây phương, rất khó gột rửa; dẫn đến mặc cảm vọng ngoại sâu sắc: tìm cách xuất ngoại đi các nước Âu, Mỹ du học, bỏ lại đất nước «lạc hậu» sau lưng. Phần lớn những du học sinh này, nếu đỗ đạt, thì ở lại nước ngoài, nếu thất bại, cũng ở lại làm việc chân tay, không về nước nên không giúp ích gì cho xứ sở. Chỉ cần đặt câu hỏi: người Mỹ, người Pháp có cần đi du học nước nào không? Là ta thấy rõ sự bất bình đẳng đã nằm trong đầu óc dân tộc ta. Để loại trừ nó, trước hết ta phải nhận diện được bản chất của «khai hoá», bằng một số nhận thức cơ bản:

 

1- Từ bỏ niềm tin rằng người tu hành không biết nói dối. Trong chuyên luận này, chúng ta sẽ bắt gặp những giáo sĩ thừa sai, chủ thể của «khai hoá», đặc biệt giàu khả năng thêu dệt hơn ai hết như linh mục Hucgiám mục Pellerin, hai tác nhân chính, đã đổ tội «tàn sát» đạo chúa cho nhà Nguyễn, đặc biệt vua Tự Đức, để thuyết phục Napoléon III (1852-1870) cất quân chinh phục Việt Nam.

2- Cuộc xâm lăng là thành tựu của sự công tác giữa hai loại người: giáo sĩquân phiệt, mà Bá Đa Lộc được coi là kẻ soi đường và các tướng tá: Đô đốc Rigault de Genouilly, Đô đốc Charner, Đô đốc Bonnard, Đô đốc De la Grandière, là những kẻ cầm đầu các trận đánh.

3- Không nên tin rằng Chế độ thực dân là con đẻ của một số người Pháp tồi tàn; hoặc những người Pháp tốt bụng, sang Việt Nam ít lâu trở thành thực dân xấu xa. Mà ngược lại, Thực dân là chủ trương của chính phủ Pháp, một chính phủ được dân bầu lên, dưới chế độ dân chủ.

4- Các Toàn quyền được gửi sang Đông Dương cai trị, là các trí thức, thuộc thành phần chính trị cao cấp, đã từng là, hoặc sẽ trở thành, Bộ trưởng, Thủ tướng, Tổng thống Pháp.

5- Hầu hết toàn quyền Đông dương (trừ Albert Sarrault) đều xuất thân từ Hội Tam Điểm. Hội này chủ trương giải phóng con người với khẩu hiệu: Tự Do-Công Bằng-Bác Ái (Liberté-Égalité-Fraternité).

Sứ mệnh «khai hoá» của các giáo sĩ Tây phương sang nước ta truyền giáo thế kỷ XVII, đã được chúng tôi trình bày trong các chương trước.

Trong chương này, chúng tôi khảo sát tác động của hai thành phần giáo sĩquân phiệt, là hai chủ thể xâm lược.

 

 

Sứ mệnh «cứu đạo» của nước Pháp

Sứ mệnh «khai hoá» bắt đầu từ khi các giáo sĩ đến truyền giáo nước ta. Ban đầu không gặp trở ngại đạt những thành tích đáng kể. Nhưng từ khi đạo Chúa bị phát giác có chủ trương chống lại các tôn giáo truyền thống ở Á châu (Phật, Khổng, Lão) thì việc cấm đạo được ban hành: giáo sĩ bị bắt giam và bị trục xuất. Từ đó sứ mệnh cứu đạo được đề ra.

Sứ mệnh cứu đạo ở Việt Nam mở đầu bằng việc cứu Giám mục Lefèbvre, với trận Đà Nẵng 1847. Trận đánh này đã được trình bày chi tiết trong chương 13: vua Thiệu Trị, ở đây chỉ xin sơ lược nhắc lại:

Ngày 23-3-1847, chiến hạm La Gloire, 45 đại bác, do đại tá Lapierre điều khiển, được trợ lực bằng tiểu hạm La Victorieuse, 24 đại bác, do thiếu tá Rigault de Genouilly điều khiển. Hai tầu chiến này do Đô đốc Cécille, Tư lệnh Hải quân Pháp ở biển Đông phái đến Đà Nẵng xin tha Giám mục Lefèbvre bị giam tại Huế.

Nhưng ngày 9-2-1847 vua Thiệu Trị đã tha và sai người dẫn độ Giám mục đi Singapour, giao cho nhà chức trách Anh. Và ngày 3-5-1847, Lefèbvre lại rời Singapour để trốn vào Việt Nam, lần thứ ba. Thành công, được chỉ định làm Giám mục địa phận Sài gòn, đến năm 1864, ông ốm nặng phải trở về Pháp và qua đời tại Marseille ngày 30-4-1865.[4]

Tháng 12-1859, khi Pháp chiếm được Sài Gòn, Giám mục Lefèbvre tiến cử ngay Trương Vĩnh Ký[5], một thanh niên do nhà dòng đào tạo, thông minh nổi tiếng, làm thông ngôn cho Soái phủ, phục vụ Jauréguiberry, toàn quyền quân sự thứ ba (sau Rigault de Genouilly và Page). Từ đấy, Trương Vĩnh Ký bắt đầu sự nghiệp phục vụ nước Pháp, như ta đã thấy trong chương 11: Trương Vĩnh Ký.

Trở lại năm 1847, trong khi Giám mục Lefèbvre sửa soạn thâm nhập vào Việt Nam lần thứ ba, thì ngày 15-4-1847, hai tàu la Gloire la Victorieuse bất ngờ câu đại bác bắn nát năm thuyền đồng của vua Thiệu Trị,  rồi bỏ đi, không quan tâm đến số phận của vị Giám mục.

Đại Nam thực lục viết:

«Đến ngày hôm sau, giờ Ngọ, bọn Tây dương tự nhiên nổ súng ầm ỹ, dồn bắn cả vào thuyền quan. Quan quân giở tay không kịp, 5 chiếc thuyền đồng chốc lát đều bị đắm mà vỡ cả. Lãnh binh Nguyễn Đức Chung, Hiệp quản Lý Điển đều chết ở trận, biền binh [quân lính] chết hơn 40 người, bị thương hơn 90 người, còn 104 người không biết trôi dạt đi đâu; súng và khí giới chìm mất rất nhiều.»[6]

Bẩy tháng sau, ngày 27-9 năm Đinh Mùi [4-11-1847] vua Thiệu Trị qua đời, ở tuổi 40.

Ngày 3-10 Đinh Mùi, [10-11-1847] vua Tự Đức lên ngôi.

Trận Đà Nẵng 1847 phản ảnh mối quan hệ mờ ám giữa giáo sĩ thực dân, mở đầu chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tuy vậy, cuộc chiến thực thụ, chỉ diễn ra 11 năm sau, 1858.

Sau trận Đà Nẵng 1847, Pháp ngừng khoảng 7 năm không tính chuyện viễn chinh, vì tình hình nội bộ và chiến sự của Pháp ở Âu châu. Nhưng sau khi Napoléon III lập lại nền quân chủ chuyên chế (Đệ Nhị Đế Chế - Seconde Empire 1852-1870) với tham vọng trở thành cường quốc số 1, Pháp lại nhòm ngó Viễn Đông: Năm 1855, Charles de Montigny, lãnh sự Pháp ở Thượng Hải (lúc đó đang nghỉ ở Paris) được chỉ định móc nối lại việc «thông thương» với khu vực này.

De Montigny nhận chức Công sứ Toàn quyền [Plénipotentiaire] với nhiệm vụ đi Bangkok ngày 22-11-1855, để ký một «hiệp ước hòa hiếu» với ba nước Xiêm, Cao Miên và Việt Nam.

Montigny rời Paris ngày 30-12-1855 đi Roma, ở lại một tháng, đến Bangkok ngày 9-7-1856.

Hai tầu chiến Pháp Catinat Capricieuse, được lệnh cập bến Đà Nẵng trong tháng 9 và 10  năm 1856.

 

 

Sứ bộ Montigny

Việc tầu Catinat bắn phá Trà Sơn

Khi tìm hiểu việc nước Pháp xin «thông thương» trở lại với Việt Nam, sau trận Đà Nẵng 1847, ta nhận thấy: sứ bộ Pháp được gửi đến «điều đình», lần này, tức là bẩy năm sau, vẫn với  chiến hạm đi kèm. Và hạm đội của họ vẫn bắn trước khi «điều đình»: Bắn để ép quan ở cửa khầu nhận thư của sứ bộ. Bắn để thị uy. Chưa kể họ còn cướp buồm, tịch thu khí giới của tầu thuyền Việt Nam đậu trong vịnh Đà Nẵng. Tóm lại, chính sách ngoại giao và quân sự «thảo khấu» của Pháp không hề thay đổi, vẫn y hệt như trước khi xẩy ra trận Đà Nẵng 1847. Và lần này với chiến hạm Catinat.

Catinat[7] chiến hạm chạy hơi nước tối tân hạng nhất của hạm đội Pháp thời đó (la corvette de première classe de la Marine française) và là chiến hạm đầu tiên ghé Đà Nẵng, sau trận Đà Nẵng 1847, mang thư báo tin sứ bộ Montigny sẽ đến xin «thông thương».

Tàu Catinat, do Bá tước Lelieur de Ville sur Arce điều khiển, rời Bangkok ngày 12-8-1856, đến Đà Nẵng ngày 16-9-1856, trong khi de Montigny vẫn còn trên đường từ Singapour đến Kampot (Cao Mên). Thuyền trưởng Lelieur có nhiệm vụ đưa thư cho nhà chức trách Việt Nam báo tin sứ bộ Montigny sẽ đến để «thương lượng» một «hiệp ước hòa hiếu».

Ngày 7-10-1856, một chiến hạm khác, ba cột buồm, tầu Capricieuse, do Collier điều khiển, khởi hành từ Kampot, tới gặp tầu Catinat ở Đà Nẵng ngày 24-10-1856.[8]

 

Về việc tầu Catinat đến Đà Nẵng, Đại Nam thực lục, tháng 8 năm Bính Thìn (9-1856), ghi:

«Thuyền của người Tây Dương sinh sự ở vùng Trà Sơn, cửa biển Đà Nẵng, Quảng Nam. Khi ấy có chiếc thuyền [Catinat] đến vụng ấy, cho hỏi, thì họ nói rằng: chỉ đến đưa quốc thư yêu cầu xin thông thương mà thôi. Rồi [tầu ấy] lại đến cửa Thuận An, đưa một phong thư cho sở đồn biển, viên tấn thủ[9] không chịu nhận, đem thư ném vào cái xuồng ván nhỏ của tầu ấy. Người Tây dương lại lấy phong thư [ấy] ném trên bờ cát, mà đi. Ngày hôm sau [tàu Catinat] lại đến Đà Nẵng [Thuyền trưởng] nói rằng việc đưa thư đã xong, đến đây đợi 7-8 ngày nữa thì chánh phó sứ [de Montigny] sẽ đến bàn việc, nếu không [chịu] hòa thì sẽ trở về chiêu tập nước Hồng mao [Anh] cùng đến, sẽ có sự không tốt».[10]

Việc sở đồn biển không nhận thư của tàu Catinat, có nguyên do từ sự cố xẩy ra năm 1845: thư Đô đốc Cécille gửi vua Thiệu Trị xin tha Giám mục Lefèbvre, viết ngày 15-5-1845, lời lẽ vô lễ đến độ Lý Văn Phức, đại diện vua ra gặp người Pháp, không biết đối xử thế nào: đem thư về cho vua đọc thì phải tội khi quân, mà vứt đi cũng không được. Rúc cục  Lý Văn Phức vẫn bị tù (xem chương13: Vua Thiệu Trị). Sau việc này, thư của các tầu Pháp đem đến, luôn luôn có giọng hống hách, trịch thượng, nên không ai chịu nhận.

Lelieur de Ville sur Arce, thuyền trưởng tầu Catinat, quen thói các tiền nhiệm: vẫn viết thư và đưa thư theo lối vô lễ: các quan không nhận, thì thảy thư lên bờ, rồi đi. Lại còn hăm dọa: nếu không chịu «hòa hiếu» thì ta rủ quân Anh đến, sẽ biết tay.

Ngày hôm sau Lelieur trở lại, hỏi thư trả lời, không có, bèn ra lệnh bắn phá các đồn lũy ở Trà Sơn.[11] Quan quân không kịp phòng bị. Sự «đánh lén» này, giống hệt như trận Đà Nẵng 1847 :

Cũng như lần trước (1847), lần này (1856), Pháp xin «thông thương» với hai tầu chiến CatinatCapricieuse, đến Đà Nẵng trong tháng 9 và 10 năm 1856. Tàu Catinat vào vịnh trước, vứt thư xin «thông thương» lên bờ. Ngày hôm sau (26-9-1856) trở lại đòi thư trả lời, không có, bèn bắn phá cửa bể Đà Nẵng. (Xem thư Tổng đốc Quảng Nam gửi Thuyền trưởng tầu Capricieuse, ở dưới).

Việc tầu Catinat đến Đà Nẵng được tâu lên vua Tự Đức, vua đưa cho bộ Binh xem xét, sức cho tỉnh Đà Nẵng đề phòng. Sớ của tỉnh lại tâu về: thuyền của Tây dương đã bắn phá các đài bảo ở vụng biển ấy rồi. Vua giận lắm, quở rằng: «… thuyền Tây dương ở bên dưới, mà trong một chiếc thuyển chứa được bao nhiêu súng đạn, thế cũng bắn từ từ, làm gì có cái thế đạn bay như mưa, huống chi quân ta ở cao, bắn xa, đã có thành luỹ đủ cậy, nó sao đánh phá ngăn chặn được hết mọi chỗ, mà không có thể bắn được ư ?»[12]

Sau vụ tầu Catinat, vua Tự Đức cùng với đại thần Trương Đăng Quế[13] điều động nhiều binh chủng cùng đến Đà Nẵng để Tổng đốc Quảng Nam Trần Tri sai phái. Chọn một viên Quản vệ pháo binh giỏi, điều khiển đại bác. Gọi Lê Nghị đem 100 Cấm binh, hiệp cùng quan quân đã đi trước, đến canh phòng Ải Hải Vân. Phái thêm 100 lính và 30 pháo thủ, giữ thành Trấn Hải [Thuận An]. Sai Vũ Lâm và Đào Trí đến ngay cửa biển Đà Nẵng hiệp cùng Trần Tri coi giữ hai thành An Hải và Điện Hải. Gọi Trần Hoàng đến Quảng Nam cùng Nguyễn Huy Lịch trông coi tỉnh ấy.[14]

Tháng 9, Bính Thìn (tháng 10-1856) vua sai Nguyễn Duy (em Nguyễn Tri Phương) đến đóng  ở cửa biển Đà Nẵng, hội cùng Đào Trí, bàn việc trấn dương [chống Tây dương), lập Trấn dương quân vụ, do Đào Trí điều khiển. Phạt Tổng đốc Trần Tri, đã bó tay không phản công  trong vụ tầu Catinat.[15]

 

Về lá thư Thuyền trưởng tàu Catinat ném lên bờ, Đại Nam thực lục viết:

«Trước đây thuyền máy chạy hơi nước [Catinat] của Tây dương đến đưa thư ngoài đồn cửa biển Thuận An. Viện Cơ Mật đã tâu, chuẩn cho đem nguyên phong, trả lại thuyền ấy và nói làm như thế là vô lễ nên không nhận. Rồi sau khi sinh sự, viên tấn thủ Lê Liêu [thuyền trưởng Lelieur] lại xin nhờ đệ hộ lá thư về việc giao hiếu và thông thương. Quân thứ Trấn dương ủy người đến vặn hỏi thì hắn nhận xin lỗi, chỉ đến trước đưa thư, về việc thông hiếu và điều ước, sẽ có chánh phó sứ do quốc trưởng phái đến sau hội bàn. Còn việc đã làm không phải [bắn phá các đồn luỹ ở Sơn Trà] thì đợi khi bàn xong việc hòa hiếu, sẽ làm đền các pháo đài và đồn bảo đã bị phá.

Đến đây lại có một chiếc thuyền ba cột buồm [Capricieuse] tới chỗ thuyền đến trước, đỗ lại, thuyền trưởng tên là Cô-li-e [Collier] đến nước Xiêm cùng với chánh phó sứ, nay hắn đi trước, chánh phó sứ vài ngày nữa sẽ đến sau, có thể bị gió bão ngăn trở, xin cho giấy đi Macao để tìm.

Vua cho rằng người Tây dương tính hay giáo dở, chuẩn cho phái thêm lính vệ Tuyển phong 50 tên đi đến đồn Cu Đê, 100 tên đi đến ải Hải Vân, hiệp cùng với quân phái đi trước đóng giữ để thêm mạnh thanh thế. Sau vài ngày, thuyền của Lê Liệu [Lelieur] ra khơi theo hướng Đông mà đi[16]

Tóm lại, sau khi Lelieur, Thuyền trưởng tầu Catinat nhận lỗi, triều đình bỏ qua việc tầu này  đánh lén tháng 9-1856. Nhưng cũng vì tàu Catinat gây hấn, nên vua Tự Đức sai kiểm soát chặt chẽ các pháo đài đồn bảo, tướng sĩ, người nào can đảm chống cự, người nào nhút nhát trốn chạy... để thưởng, phạt.

Sau vụ gây hấn, tầu Catinat được lệnh rời Đà Nẵng, ra biển Đông.

Chiếc tàu thứ hai của Pháp, Capricieuse, do Collier, điều khiển, cập bến Đà Nẵng tháng 10-1856.

Sau khi Charner chiếm được Sài gòn và Mỹ Tho năm 1861; năm 1865, để vinh thăng bước đầu xâm lược, tên tầu Catinat, được Thống đốc de la Grandière đặt cho một trong những con đường chính ở trung tâm Sàigon, trở thành con đường thanh lịch nhất thủ đô dưới thời Pháp thuộc. Năm 1954, chính quyền miền Nam đổi thành Tự Do và sau 1975, đổi thành Đồng Khởi.

 

 

Thư của Tổng đốc Quảng Nam gửi  Thuyền trưởng tầu Capricieuse

Tàu Capricieuse thay thế tầu Catinat trong nhiệm vụ tấn công Đà Nẵng.

Tổng đốc Quảng Nam gửi cho Collier, Thuyền trưởng tầu Capricieuse một lá thư (không đề ngày) phía Pháp nhận được ngày 5-11-1856 [thư viết chữ Hán, được dịch sang chữ Pháp].

Trước hết, Tổng đốc Quảng Nam tóm lược sự việc: Tầu Catinat [do Lelieur điều khiển] đến Đà Nẵng mang theo thư [của de Montigny] giải thích ý định xin thông thương của chính phủ Pháp và đòi thi hành ngay nếu không sẽ tấn công. Một thuyền nhỏ đem lá thư này tới cửa Hiun-ngan (Thuận An). Viên quan giữ cửa khẩu không nhận, lá thư được bỏ lên bãi cát, tầu Catinat tiến vào Đà Nẵng. Quan giữ cửa khẩu nhặt thư trên bãi cát, gửi về Đà Nẵng. Trong khi đó tầu Catinat, không một lời giải thích, ngày 26-9-1856, bắn phá và xâm chiếm các đồn luỹ ở Đà Nẵng. Lính đồn trú [40 người] bị bắt xuống tầu, sau được thả...[17]

Sau hành động «thảo khấu» này, Thuyền trưởng Lelieur vẫn còn đòi thư trả lời hai, ba lần.

Ngày 28-9-1856, Tổng đốc Quảng Nam mở thư của Montigny ra đọc, thấy những điều đòi hỏi, có thể chấp nhận được, nhưng lời thư gọi Napoléon III là Hoàng Đế (Empereur), Tự Đức là Vua (Roi), thì không thể dâng vua. Tổng đốc Quảng Nam yêu cầu sửa lại cách viết:

«Chỉ có thể nói đến hòa ước sau khi đã sửa lỗi lầm. Vì thế, [chúng tôi] sẽ gửi người đến Thuyền trưởng Collier, là người kèm sát Thuyền trưởng Lelieur, để sửa lại lá thư ban đầu và hứa là từ nay có thể tin được [người Pháp] để hai vương quốc đoàn kết cùng ký một hiệp ước đồng minh; trong tương lai sẽ không còn các vấn đề phải phàn nàn hay tuyệt giao, và tầu [Pháp] cũng không được mượn cớ này cớ nọ để bắn phá đồn lũy và đánh chìm tầu thuyền [nước Nam] như trước nữa. Dù có chuyển lá thư đã sửa đến, nhưng đồn lũy cũng đã bị chiếm và phá hoại; mọi người không thể bằng lòng.

Nếu người Pháp thẳng thắn và trung trực (francs et loyaux), ta chỉ đòi hỏi họ tuân lệnh nhà chức trách sở tại, và khi họ ra vào cửa biển, phải tôn trọng luật lệ của nước mà họ đến. Tại sao cứ phải phạm luật? Hòa bình là một việc quan trọng và nước Việt Nam không phải là nước duy nhất bất đồng với nước Pháp về điểm này.»[18]

Lời lẽ trong thư vừa nhu vừa cương: Chỉ có thể nói đến hòa ước sau khi đã sửa lỗi lầm, nhưng xin lỗi chưa đủ, các thuyền trưởng tầu Pháp còn phải tôn trọng luật lệ trong xứ và không được bắn phá thuyền tầu nước sở tại như trước nữa. Tại sao cứ phải manh động? Cứ phải phạm luật ? Có ích gì cho quan hệ Việt Pháp?

 

 

Thư trả lời của thuyền trưởng Jules Collier

Trong thư trả lời, ngày 9-11-1856, Jules Collier, Thuyền trưởng tầu Capricieuse, sau vài câu  lịch sự giáo đầu, trở giọng hống hách, ngụy biện bênh vực tầu Catinat và buộc tội:

«...Tổng Tư lệnh hạm đội (Le Commodore)... nhận thấy rằng:

Khi tàu chiến Pháp Catinat gửi một ghe nhỏ không võ trang, nghiã là hữu nghị, đến cửa biển Hiun-ngan [Thuận An] (Huế), họ được tiếp đón với sự ngờ vực đã là một sự nhục mạ.

Rằng việc từ chối nhận thư của một vị Đế vương đầy quyền uy như Hoàng đế nước Pháp, là thêm một sự nhục mạ lớn lao và mới mẻ nữa; rằng tầu Catinat đã hành động với một sự hoà hoãn lớn (grande modération), và tầu đó không có phương tiện nào khác để thi hành lệnh mà ta [ Collier] đã giao cho, là mang thư tới Thuận An.

Tầu Catinat trở lại Đà Nẵng, người ta đã cấm không cho ai liên lạc với nó, người ta loại trừ nó như hủi. Thuyền trưởng tàu Catinat có thể tin vào tình hữu nghị với các người được không? Những đồn luỹ khủng khiếp vây quanh tầu, mới đầu còn yên lặng, sau thấy có chuyển động bất thường, hoạt náo ầm ỹ. Thuyền trưởng đã viết thư, báo với các người rằng ông ta không thể làm ngơ trước những chuẩn bị chống cự này. Các người không trả lời. Tầu Catinat đã chẳng báo trước một cuộc tấn công gấp rút sẽ xẩy ra, một cuộc đổ máu lớn? Và để tránh sự rủi ro như thế, tầu Catinat đã phải đi trước cuộc tấn công của các người để vô hiệu hoá, mà không tiêu hủy những khí giới, sẽ làm cho hiệp ước thân hữu không thể thực hiện được. Tầu Catinat, trong hoàn cảnh này phải chăng vẫn còn hành động với một sự hòa hoãn lớn[19]

Lời lẽ đe dọa, vừa đánh trống vừa ăn cướp, biểu hiện phong cách của Collier, Tư lệnh Hải quân Pháp ở biển Đông, giống hệt giọng điệu những người tiền nhiệm của ông: Tầu của nước «đại Pháp» đến cửa biển, thì chính quyền Đà Nẵng không được cấm mọi người đến liên lạc. Ai cũng biết chẳng người Việt nào muốn «liên lạc» với tầu Pháp (vì không biết tiếng), trừ bọn mật thám đến chỉ điểm. Còn những đồn lũy trong vịnh cũng không được quyền động đậy, như thế là sửa soạn tấn công tầu đại Pháp! Vì vậy, «ta» phải tấn công trước để trừ hậu họa, và «ta» còn gian dối vu khống trắng trợn: «việc từ chối nhận thư của một vị Đế vương đầy quyền uy như Hoàng đế nước Pháp, là thêm một sự nhục mạ lớn lao».

Tàu Catinat không hề đem thư của vua Napoléon III, chỉ có thư của de Montigny xin hẹn đến điều đình bản hiệp ước «thân hữu».

Cái lối viết thư thế của các Thuyền trưởng Pháp khi đến Đà Nẵng xin «thông thương», kèm với hành động bắn phá trước, khiến họ trở thành những «tướng cướp» dưới mắt các quan trong triều, hơn là đại diện một nước lớn và tân tiến đến đây để xin thông thương buôn bán; đã giải thích lý do thất bại của họ.

 

 

 

Montigny đến Đà Nẵng, 1857

Cuối cùng, sau một thời gian nghị bàn, triều đình cũng bỏ qua hành động và ngôn ngữ thô bạo của hai thuyền trưởng Lelieur và Collier: Phái đoàn Montigny được phép đến Đà Nẵng và được tiếp đãi tử tế.

Ngày 23-1-1857 Montigny đến Đà Nẵng, lúc đó, hai tầu chiến Catinat Capricieuse đã bị gọi đi Trung quốc, ông đến bằng một chiếc tàu nhỏ, không có chiến hạm đi kèm.[20].

Đại Nam thực lục, tháng Giêng, Đinh Tỵ (tháng 2-1857) ghi:

«Khâm phái Trấn dương quân vụ là bọn Đào Trí tâu nói: Thuyền của sứ thần Tây dương đến  xin phái viên quan đến hội bàn việc hòa hiếu, tự xưng là viên quan nhất phẩm của Tây dương chỉ xin đến Kinh thành cùng viên quan to nhất phẩm hội họp bàn định. Xin nên chọn phái viên quan to cùng đến hội bàn.

Vua bảo rằng: Lời xin có phần câu nệ cố chấp, bộ tư ngay cho viên ấy [Đào Trí] hết lòng trù tính kế hoạch, cốt sao cho đúng thời cơ, để xứng với uỷ nhiệm, hà tất phải mượn người khác làm gì.»[21]

Vua Tự Đức cho phép de Montigny đến Đà Nẵng, nhưng không cho đến Huế; triều đình thừa biết viên Lãnh sự de Montigny tự xưng là quan nhất phẩm (tương đương với hàng Bộ trưởng, Thủ tướng) để đòi được quan nhất phẩm triểu đình tiếp. Một sự đòi hỏi vô lý, nên Trương Đăng Quế, Đại thần Nhất phẩm triều đình, không ra tiếp. Vua sai Tư lệnh Trấn dương quân vụ Đào Trí ra họp với sứ bộ Montigny ở Đà Nẵng.

Sau đó, Đại Nam thực lục không viết thêm gì nữa về việc này, vì hội nghị chỉ có 2 ngày, và không đem lại kết quả, như ta sẽ thấy ở dưới. Tuy nhiên, de Montigny báo cáo rằng có tới 2 tuần thương thuyết nhọc nhằn và bỉ mặt (négociations pénibles et mortifiantes) đối với danh dự của dân tộc ta.»[22]

Theo lời sử gia Charles Fourniau, phái đoàn Việt Nam có 5 người, hẳn là Đào Trí, Nguyễn Duy (em Nguyễn Tri Phương) là hai người cầm đầu Trấn dương quân vụ, cùng với 3 người khác. Phái đoàn Pháp, ngoài de Montigny, còn có ba đại diện đạo Gia Tô: Giám mục Pellerin, Giám mục Miche và Linh mục Fontaine. Sự hiện diện này giải thích nội dung lạ lùng của bản Dự thảo hiệp ước, mà ta sẽ đọc ở dưới.

 

Charles Fourniau viết:

«Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên ngày 30-1-1857, Montigny cư xử như một tên thô bạo cục súc ( un soudard) hơn là một nhà ngoại giao. Trước lời phát biểu của vị Đặc sứ toàn quyền Việt Nam [Đào Trí]: «Nếu các ông muốn hoà bình, thì chúng tôi thực thi hoà bình; nếu các ông muốn chiến tranh, chúng tôi sẽ chiến đấu», Montigny trả lời bằng những lời đe dọa tồi tệ nhất, ông quyết rằng: «những phương tiện tàn phá của chúng tôi mạnh mẽ đến độ có thể xoá hẳn tên vương quốc An Nam trên bản đồ thế giới» và chấm dứt hội nghị bằng câu: «Tôi không có cách nào khác là chấm dứt tức khắc hội nghị; tôi cương quyết làm điều này, mặc những lời năn nỉ của bốn đặc sứ toàn quyền [Việt Nam] kia, mời tôi ngồi xuống.»[23]

Bourboulon kể tiếp những việc xảy ra sau đó: «Vị Công sứ toàn quyền của ta [de Montigny] thử trở lại với việc điều đình, nhưng những điều kiện ông đưa ra phá tan sự yên tĩnh lễ độ và quyết tâm của các quan... không thể đồng ý về bất cứ điểm nào, ông ta lại thử khủng bố (essayer de terrifier) chính phủ Annam một lần nữa, ngày 31-1-1857, ông ta gửi cho chính quyền Đà Nẵng một tối hậu thư... trong đó ông hẹn cho 24 tiếng đồng hồ để quyết định trở lại điều đình...  Nhưng chiều hôm đó ông gửi các giám mục Pellerin, Miche và cha Fontaine đi rút lại tối hậu thư với điều kiện, chính phủ An Nam, ít nhất, phải thỏa thuận kết thúc hiệp ước với nước Pháp. Uỷ viên của vua Annam mỉm cười trao lại tối hậu thư và chấp nhận hội nghị sẽ họp ngày 2-2-1857. Hôm đó một cuộc thương thảo đích thực sẽ bắt đầu trên căn bản của hiệp ước do Pháp biên soạn [xem ở dưới]. Các nhà ngoại giao Việt Nam đề nghị bản hiệp ước bắt đầu bằng câu:

«Hoàng đế nước Pháp đã khiêm tốn van xin Đại đế Việt Nam thực thi hoà bình, Đại đế nhủ lòng thương hại đã vui lòng ban phước cho.» (l'Empereur des Français ayant prié humblement le Grand Empereur d'Annam de faire la paix, ce dernier, le prenant en pitié, voulut bien lui accorder cette grâce)».

[Câu này để trả đũa lá thư đầu do Lelieur mang đến, gọi Napoléon III là Empereur (Hoàng đế) và Tự Đức là Roi (Vua).]

De Montigny chỉ còn cách bỏ đi. Ngày 6-2-1857 ông ra đi để lại lời hăm dọa cuối cùng: «Nếu chính phủ An Nam tiếp tục tàn sát đạo Chúa thì sẽ bị Pháp trả thù.»[24]

Như thế, việc «khai hoá» của de Montigny nói riêng và của chính phủ Pháp nói chung, hoàn toàn  thất bại, bởi vì họ chỉ biết có hai phương pháp «điều đình»: đe dọa khủng bố.

 

 

Dự thảo hiệp ước Montigny gửi lại triều đình Huế (tháng 2-1857)

Dưới đây là tóm lược bản dự thảo hiệp ước Montigny:

Điều 1: Sẽ có hòa bình bền vững và tình hữu nghị mãi mãi giữa hai nước...

Điều 2: Sẽ thiết lập lãnh sự Pháp tại Huế (Vương quốc An Nam nếu muốn cũng có thể lập lãnh sự quán tại Pháp).

Điều 3: Thần dân Pháp được tư do hành đạo trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam và xây dựng nhà thờ ở bất cứ nơi nào mà nhà cầm quyền địa phương sau khi tham vấn lãnh sự Pháp, cho phép.

Điều 4: Các sắc lệnh tàn sát đạo phải được hủy bỏ ngay, những điều khoản phạt người theo đạo, phải xoá bỏ trong tất cả các bộ luật của Vương quốc.

Điều 5: Đạo Công giáo từ nay sẽ được coi như một trong những Quốc giáo, và người An Nam sẽ không bị ức chế theo một đạo khác, trái ngược với đạo này.

Điều 6: Những vị thừa sai có quyền giảng đạo, dạy đạo, xây nhà thờ, giáo xứ, trường học, bệnh viện, hoặc những cơ sở đạo khác, ở bất cứ nơi nào trên Vương quốc, miễn là có phép của lãnh sự Pháp, hay của Giám mục, hay của Bề trên.

Điều 7: Những điều 3, 4, 5, 6 phải được ban hành ở khắp các tỉnh trên toàn thể lãnh thổ...

… Điều 9: Thần dân Pháp được quyền tự do di chuyển và tự do buôn bán ở Vương quốc này.

… Điều 20: Những tầu chiến của Pháp được tự do ra vào tất cả các cửa biển...

… Điều 28: Hiệp ước phải được phê chuẩn, chậm nhất là một năm sau khi ký.

 

Những điều: 3, 4, 5, 6, 9, 20, chứng tỏ de Montigny không hiểu hoặc không muốn hiểu hai chữ «hòa hiếu» là gì. Ông ta đã viết một văn bản của kẻ thắng trận buộc kẻ thua trận phải ký nhượng lãnh thổ cho «bọn» giáo sĩ thừa sai muốn làm gì thì làm!

«Hiệp ước» này được gửi lại cho triều đình Huế, như món quà «làm lành» sau 10 năm đoạn tuyệt vì cuộc đánh lén 1847, tiếp đến cuộc đánh lén 1856.

Không ai ký một «hiệp ước» như thế.

 

Sứ bộ Montigny thất bại. Hành vi tấn công Đà Nẵng của Lapierre (tàu la Gloire, 1847) và của Lelieur (tàu Catinat, 1856), tuy được triều đình bỏ qua, nhưng bản «hiệp ước» Montigny, càng làm tăng sự khinh mạn của các quan đối với người Âu, nói chung. Trước đó họ chỉ khinh bỉ giới thừa sai và giới quân phiệt mà thôi.

Bourboulon viết: «Chúng tôi rời Đà Nẵng, bị nhạo báng và khinh bỉ. Chúng tôi đến, có thể nói, trong chiến thắng, nhưng đi trong chiến bại»[25] Lời tự thán có vẻ lâm ly này vẫn không thoát khỏi niềm tự kiêu cố hữu của người Âu: đến trong chiến thắng ư? Một cú đánh lén của Lelieur (bắt chước Lapierre 9 năm trước), sao gọi là chiến thắng?

 

Từ «mối nhục» này, phái giáo sĩ gia tăng việc kình chống vua Tự Đức: Linh mục Huc, Giám mục  Pellerin và Linh mục Legrand de la Liraye quyết tâm xin Napoléon III, tức tốc đánh chiếm Việt Nam, mà Legrand de la Liraye là người đưa ra sách lược tham chiến đầy đủ và rõ ràng nhất: đề nghị tấn công cả ba thành phố lớn Huế, Hà Nội, Sài Gòn, bởi vì, ông nhắc lại: hạm đội Việt Nam đã bị tiêu diệt ở trận Đà Nẵng 1847. Rồi các giáo sĩ thi nhau đưa ra những con số khổng lồ về việc giết đạo, như ta sẽ thấy trong biên bản buổi họp bế mạc ngày 18-5-1857 của Uỷ ban nước Nam (những vấn đề này sẽ nói đến sau).

 

Về phiá Việt Nam, việc phòng bị Tây dương gia tăng: tháng 2, Đinh Tỵ (tháng 3-1857), Đào Trí trình bày kế hoạch Trấn dương: Đặt bảo [đồn] Trấn dương ở đỉnh núi, chia và đặt 20 cỗ xe súng đại bác, từ thành An Hải đến chân núi Trà Sơn [phiá Tây], và từ thành Điện Hải đến cảng Thanh Khê [phiá Đông], đắp luỹ cát rồi trồng cây gai góc che lấp...[26]

Kinh lược sứ Nam kỳ Nguyễn Tri Phương và Tổng đốc Định-Biên Phạm Thế Hiển, tâu về triều tình hình các mặt biển sáu tỉnh ở Nam Kỳ, thì Cần Giờ là sâu rộng hơn cả, tầu bè đi lại dễ dàng, rất là quan yếu... cần phải tổ chức phòng chống.

 

Tiếp đến việc giáo sĩ thứ hai bị xử tử, Đại Nam thực lục ghi:

«Tháng năm nhuận Đinh Tỵ [tháng 6-7 năm 1857], tỉnh Nam Định bắt được tên đạo trưởng người Tây dương [Garcia]. Chuẩn cho đi chém. Vũ Văn Trung chứa tên đạo trưởng ấy, xử phát phối đi Cao Bằng».[27]

Giáo sĩ đầu tiên bị xử tử là Schoeffler, trốn vào Việt Nam, bị bắt và bị xử chém tháng 3-1851.

 

Tóm lại, dưới triều vua Thiệu Trị, trong 7 năm trị vì, vua đã ra lệnh thả hết các giáo sĩ bị tù, hoặc bị kết án tử hình dười triều vua Minh Mạng. Hậu quả của hành động khoan hồng này, là cuộc tấn công Đà Nẵng 1847.

 

Vua Tự Đức, thấy không thể áp dụng chính sách khoan hồng với những giáo sĩ chỉ biết lợi dụng sự khoan hồng để tiếp tục vào lậu, gây loạn trong xứ. Trong 11 năm (1847-1858), vua ra hai dụ cấm đạo: Dụ Mậu Thân (7-1848) và dụ Giáp Dần (8-1854), và xử tử hai giáo sĩ Tây phương trốn vào: Schoeffler, tháng 3-1851 và Garcia tháng 6-7 năm 1857.

Trong hai dụ cấm đạo này, không có câu nào ra lệnh giết giáo dân, mà họ chỉ bị cách ly với các giáo sĩ, dưới hình thức đổi làng hoặc lưu đầy.

Tình trạng này không thể so sánh với câu: 600.000 giáo dân và giáo sĩ đã bị tàn sát và xử tử ở nước Nam, mà đô đốc Cécille thổi phồng trong thư gửi vua Thiệu Trị năm 1847, được Uỷ ban nước Nam chép lại, năm 1857, làm cớ để đánh Việt Nam.

Hỏi sao toàn thể đình thần Tự Đức, không khinh bỉ những kẻ đến chinh phục?

(còn nữa)
Thụy Khuê
Tháng 2-2026


[1]           Đại Nam thực lục bắt đầu soạn từ thời Minh Mạng (1821) trong 88 năm, hoàn thành đời Duy Tân (1909). Sau được soạn tiếp đến đời vua Khải Định. Đại Nam liệt truyện bắt đầu soạn từ thời Tự Đức (1852) và hoàn thành đời Thánh Thái (1889).

[2]             Claude Gendre, La Franc-Maçonnerie mère du colonialisme, Le cas du Vietnam, (Hội Tam Điểm mẹ đẻ chế độ Thực dân, Trường hợp Việt Nam) Nxb L'Harmattan, Paris, 2011, trang 25.

[3]           Thomazi, La conquête de l'Indochine (Cuộc chinh phục Đông Dương), Nxb Payot, Paris, 1934, trang 13.

[4]           Georges Taboulet, La Geste française en Indochine (Huân trạng của người Pháp ở Đông Dương), Nxb Adrien-Maisonneuve, Paris, 1955,  quyển I, Texte 126, trang 369-370.

[5]           Nguyễn Văn Trấn, Trương Vĩnh Ký con người và sự thật, Nxb TpHCM, Ban Khoa Học Xã hội Thành uỷ, 1993, trang17.

[6]             Đại Nam thực lục, Tập sáu, Đệ tam kỷ, quyển LXV,  Nxb Giáo Dục, 2006, trang 984.

[7]             Tầu Catinat lấy tên Thống chế Nicolas de Catinat (1637-1712) danh tướng  Pháp, thời Louis XIV.

[8]             Taboulet, La Geste française en Indochine (Huân trạng của người Pháp ở Đông Dương), quyển I, trang 390.

[9]           Tấn thủ  ở đây chỉ viên quan coi sở đồn biển ở Đà Nẵng. Cũng có chỗ dùng để chỉ thuyền trưởng.

[10]            Đại Nam thực lục, tập 7,  Nxb Giáo Dục, trang 465.

[11]         Đại Nam thực lục, tập 7, Nxb Giáo Dục, trang 466.

[12]            Đại Nam thực lục, tập 7,  trang 466.

[13]            Quan đại thần Trương Đăng Quế, là Thượng thư bộ Binh, từ thời Minh Mạng.

[14]         Đại Nam thực lục, tập 7,  trang 466.

[15]         Đại Nam thực lục, tập 7,  trang 466.

[16]         Đại Nam thực lục, tập 7, trang 470.

[17]            Thư Tổng Đốc Quảng Nam gửi Thuyền trưởng tàu Capricieuse, in trong La Geste française en Indochine (Huân trạng của người Pháp ở Đông Dương) của Taboulet, quyển I, trang 390-391.

[18]         Thư Tổng Đốc Quảng Nam gửi Thuyền trưởng tàu Capricieuse, in trong La Geste française en Indochine, Taboulet, quyển I, trang 391.

[19]            Thư trả lời của thuyền trưởng Collier, in trong La Geste française en Indochine, Taboulet, quyển I, trang 392.

[20]         Fourniau, Vietnam domination coloniale et résistance nationale 1858-1914 (Việt Nam đô hộ thực dân và kháng chiến quốc gia 1858-1914) Nxb Les Indes savantes, Paris, 2002,  trang 49.

[21]         Đại Nam thực lục, Tập 7, trang 485.

[22]            Taboulet, La Geste française en Indochine, quyển I,  trang 394.

[23]         Theo phúc trình của Montigny trong Báo cáo ngày 22-3-1857 (Võ Đức Hạnh, La place du Catholicisme dans les relations entre la France et le Việt Nam, II (Vị thế của đạo Chúa trong quan hệ Pháp-Việt từ 1870 đến 1886), Nxb Peter Lang, Berne, 1992, Document 29, in lại trong Fourniau, Vietnam domination coloniale et résistance nationale 1858-1914 (Việt Nam đô hộ thực dân và kháng chiến quốc gia 1858-1914), trang 49.

[24]            Fourniau, Vietnam domination coloniale et résistance nationale 1858-1914 (Việt Nam đô hộ thực dân và kháng chiến quốc gia 1858-1914), Les Indes savantes, Paris, 2002, trang 49.

[25]         Fourniau, Vietnam domination coloniale et résistance nationale 1858-1914, trang 49.

[26]         Đại Nam thực lục, Tập 7, trang 491.

[27]            Đại Nam thực lục, Tập 7, trang 505.

 


© 2026 Thụy Khuê