|
Thụy Khuê Cấu Trúc Thơ
XIII. Thơ tự do
Một tác phẩm văn học có thể phản chiếu được thời đại hay không? Tôi Không Còn Cô Ðộc của Thanh Tâm Tuyền có thể trả lời được câu hỏi đó. Xuất hiện tháng 10/1956 cùng với tạp
chí Sáng Tạo, tác phẩm gây những phản ứng cực kỳ
tương phản và nhiều năm sau, lời yêu, tiếng ghét vẫn chưa
nguôi cường độ và nồng độ ban đầu.
Tôi Không Còn Cô Ðộc đứng
riêng một phía -cô độc- trong hành trình tự do của mình.
Trước Thanh Tâm Tuyền cùng Thanh Tâm Tuyền và sau Thanh Tâm
Tuyền, chưa có tác phẩm nào gây nhiều tương phản như thế,
bởi chính nó là sự tương phản.
Thanh Tâm Tuyền nhà thơ tương phản Là một nhà lý luận, Thanh Tâm Tuyền lý giải hành trình thơ tự do của mình trong bài tiểu luận Nỗi Buồn Trong Thơ Hôm Nay: Tại sao phải đổi mới? - Bởi vì thơ luật gò bó nhịp điệu trong tám câu. Thơ mới biến hóa hơn, nhưng rút gọn phạm vi trong bốn câu. Thơ phá thể là thơ mới trong ngõ cụt: Các câu dài ngắn khác nhau nhưng đầy vần điệu giả tạo, vì thế mà có thơ tự do. Nhịp điệu của thơ tự do không gieo lối đồng âm, đồng thanh, mà là nhịp điệu của hình ảnh, nhịp điệu của ý thức. Dựa vào sự phân biệt của Nietzsche giữa hai quan niệm nghệ thuật đối chọi nhau: Nghệ thuật Apollon với cái đẹp toàn bộ, hoàn chỉnh và nghệ thuật Dyonysos phá vỡ những hình thức sẵn có, Thanh Tâm Tuyền chọn nghệ thuật thứ nhì:
Ðồng ý với nghệ thuật Dionysos. Nhưng cũng trong tạp chí VĂN ấy, ở bài tiểu luận Nhân Nghĩ Về Hội Họa, Thanh Tâm Tuyền viết: "Nghệ thuật là cách xây dựng cụ thể của đời sống. Do đó trong danh từ nghệ thuật tự nó đã loại trừ danh từ trừu tượng [...]. Hội họa trừu tượng là một hủy thể thuần túy. Người xem không tìm thấy ý nghĩa nào ngoài sự đổ vỡ hoàn toàn của mọi hình thể, sự rối loạn vô định của đường nét." (Sách đã dẫn) Nhà thơ trẻ tuổi quá lời chăng? (bài viết năm 1956, in lại năm 72, các tác phẩm chủ yếu của Thanh Tâm Tuyền xuất hiện lúc ông 19, 20 tuổi). Một dấu hỏi được đặt ra: Tại sao người làm thơ có quyền phá vỡ hết mọi hình dáng để sự vật hiện ra với cái thực chất hỗn loạn của nó, mà người vẽ lại không được quyền hủy thể? Cho rằng hội họa trừu tượng là hủy thể thuần túy đi. Nếu đã quan niệm tự do tuyệt đối, tại sao không chấp nhận hủy thể thuần túy? Văn chương không chỉ có những tích cực. Ðối diện với Malraux còn có Céline, trước Céline có Sade. Không phải ngẫu nhiên mà Nietzsche ca tụng tính déclin nơi con người. Những hình ảnh mưa rơi sao, lệ đá xanh của Thanh Tâm Tuyền thì dựa trên thực tế nào trong đời sống? Và xây dựng gì cho đời sống? Mà vẫn là nghệ thuật, nghệ thuật huyền ảo và quyến rũ. Nghiệm cho cùng, nhìn một cách nào
đó, hội họa trừu tượng có thể là người bạn đồng
hành của thơ tự do. Kandinsky để cảm hứng tự do, tràn ra
những thể (formes) vô hình thức, cực kỳ khác lạ, biểu
dương thế giới nội tâm và khả năng tưởng tượng của
tác giả. Ở bình diện đối lập, Malévitch và Mondian biểủ
hiện vũ trụ một cách thuần lý và đơn giản nhất bằng
những đoạn thẳng nói lên tính cách đứt đoạn của không
gian và đời sống. Hội họa trừu tượng hòa hợp hai quan
niệm tương phản trên, mở ra một ngã mới cho người nghệ
sĩ. Nếu hội họa truyền thống tổng hợp những đường
nét, hình thể, màu sắc để tạo nên những toàn bộ hoàn
chỉnh thì hội họa trừu tượng phản ánh khả năng phân
tích những toàn bộ hoàn chỉnh của người nghệ sĩ, cùng
trong chức năng phục vụ nghệ thuật. Có thể nói đó cũng
là hai khía cạnh của nghệ thuật: Apollon và Dionysos.
*
Những điều dông dài trên đây chỉ
để chứng minh rằng Thanh Tâm Tuyền là một tác giả phức
tạp và tương phản. Một đặc trưng hiếm hoi trong văn
học Việt từ trước đến giờ.
Ðiểm thứ nhì: tư tưởng hoài nghi xuất hiện cùng với sứ mệnh anh hùng (Malraux, Eluard) tranh đấu cho tự do dân chủ, gây ra nghịch lý của tự do, đưa đến câu hỏi: Có thể có tự do? Ðó là vấn đề của Bếp Lửa (1957) được thể hiện ngay trong lời mời người đọc tự do bước vào tác phẩm Tôi Không Còn Cô Ðộc.
Hình ảnh này tương tự như hình ảnh "tôi khắc tự do vào mỗi tâm hồn" (trang 63), có thể là hình ảnh của người Việt, sau hiệp định Genève được đúng 300 ngày để tự do lựa chọn giới tuyến của mình. Sau khi đã lựa chọn rồi, người phải thần phục vì đã nhập lãnh thổ. Vì vậy ở Thanh Tâm Tuyền, tôi yêu
những cái tôi "vẽ chữ Tự Do mọi người cười ào ạt"
(trang 62) hơn những cái tôi "khắc Tự Do vào mỗi tâm hồn"
(trang 63). Nhưng nếu loại trừ những cái tôi "khắc Tự
Do vào mỗi tâm hồn" đi, thì ngọn lửa đấu tranh tiêu
tán và tác phẩm không có lý do tồn tại. Ðó là mâu thuẫn
sâu xa giữa tác phẩm và biểu tượng, giữa đấu tranh và
lý tưởng tranh đấu, giữa hai cực và con người (không thể
lựa chọn, không biết lựa chọn). Con người ở vị trí trung
gian, không đen, không trắng, con người chịu đựng và bắc
cầu. Tác phẩm như cái cầu nổi bắc giữa hai cực mà con
người tòng teng trên đó. Nó biểu thị những nhận thức
nội tại của con người về mình, về thời đại mình đang
sống, bao gồm những phi lý, bất lực của cuộc đời nhược
tiểu, chia đôi đất nước, chiến tranh, tự do, cộng sản,
bạo lực, đàn áp, rác rưởi, hận thù, với cái nhìn chủ
quan của người nhập cuộc và tranh đấu. Nó phản ánh một
giai đoạn chủ quan của lịch sử mà mọi người đều phải
nhập cuộc và tranh đấu dù cảm thấy cái phi lý của đấu
tranh: Tự do cũng như sự thật, hai sức mạnh tối thượng
của con người, nhưng đều là những thực thể không nắm
bắt, tranh đấu được: Con người không sở hữu tự do.
Con người không sở hữu sự thật. Con ngưòi là tự do. Con
người là sự thật. Khi cất tiếng tranh đấu cho tự do,
cho sự thật, hắn đã loại trừ tự do và sự thật ra khỏi
bản chất của mình, chúng trở thành đối tượng chiếm lĩnh
và mặc nhiên hắn đã bước vào cương vị của kẻ xâm lấn:
Tranh đấu cho hòa bình là hình thức khôi hài nhất của các
hình thức đấu tranh.
*
Về bí quyết sáng tạo, Thanh Tâm Tuyền thổ lộ:
Mơ đây là mơ tỉnh trong vô thức, cái kho vô tận của con người, là tiềm lực của sáng tạo, cho nên thơ Thanh Tâm Tuyền tràn ngập hình ảnh:
Ba câu thơ trên quy tụ tám hình ảnh độc đáo liên tiếp, loại hình chưa xuất hiện trên thơ Việt từ trước đến giờ: Ðêm giao thừa thế kỷ, mưa rơi sao, mái sáng, đường nằm chiêm bao, biển giận dỗi, bàn tay mây, mắt trăng, môi nhiệt đới. Biện pháp siêu thực tận dụng đến kiệt cùng. Thanh Tâm Tuyền là một trong những nhà thơ giầu hình ảnh nhất trong thơ Việt. Cái mới đầu tiên mà Thanh Tâm Tuyền đem vào thơ Việt là dứt bỏ hình thức hoàn chỉnh và đóng của câu thơ truyền thống kiểu "Thuở trời đất nổi cơn gió bụi", để đi đến hình thức mở, dang dở, có thể nối tiếp:
Tính cách dang dở, dứt đoạn này không
chỉ hiện diện trong thơ mà là tính cách chung của văn học
nghệ thuật thế kỷ XX. Picasso "cắt" mặt của các cô gái
Avignon (Mesdemoiselles d'Avignon) ra làm nhiều mảnh, thể hiện
khuôn mặt chuyển động, với nhiều khía cạnh, kể cả những
khía cạnh nội tâm; thay thế chân dung cổ điển, hoàn mỹ
(khuôn mặt im lìm - đối tượng chết) không có trong thực
tế. Dos Passos ghép những "mảng chuyện", thỉnh thoảng đưa
ống kính caméra quẹt sang phía khác - lại có thời sự lọt
vào, để người đọc cảm nhận được môi trường sống
sinh động trước mắt.
Cái tôi Thanh Tâm Tuyền Bài thơ Phục Sinh có thể coi như một thông điệp tư tưởng và nghệ thuật của Thanh Tâm Tuyền, đặt ra nhiều nghi vấn tiếp nhận. Thoạt nhìn có vẻ dễ: Nhịp điệu hình ảnh gắn liền với nhịp điệu ý thức để trở thành nhịp điệu nhận thức về nội dung tư tưởng: Cần hủy để tái sinh trong đời sống, trong sáng tạo. Phương tiện thực hiện: Mình trực diện với chính mình, mình tự bóc vỏ mình, để lột xác, tái sống. Hai chữ buồn nôn ngay dòng đầu gọi người đọc đến một phương trời khác: một Roquetin - Sartre và một Tôi - Thanh Tâm Tuyền. Hai hữu thể cách nhau vạn dặm nhưng cùng chung một nỗi đau, cùng chịu khảo hạch của nhận thức, cả hai đều phải học lại cảm giác với tất cả giác quan của mình, và bỗng thấy vũ trụ xã hội, vũ trụ văn hóa, thẩy đều đổ vỡ, cần phải hủy diệt để tái sinh:
Tự hủy để tái sinh, chưa giải quyết vấn đề. Bạn bèn thử cách tiếp nhận thứ nhì: Từ khoảng tối nội tại, phóng ra những hình ảnh hỗn loạn, ghê gớm mà con người dấu kỹ trong tiềm thức và quên đi trong vô thức: Những tội ác, giết người, lang sói, ... của cái tôi được phanh phui, trần trụi trước ánh nắng thủy tinh, tia mắt băng trinh của em bé quàng khăn đỏ. Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ:
Có một cái tôi hiện hữu (tôi gọi tên tôi) và một tôi
vắng mặt (cho đỡ nhớ). Sự phân thân và phân tâm này vừa
chứng minh sự đổ vỡ không cứu vãn được trong con người,
vừa là nhận thức sâu xa về những mất mát, tứ tán của
chính mình.
Nhưng tình yêu chỉ là phương tiện hành
động "thế giới tuyệt đối của Tình
Ái bị phá vỡ, những thần tượng sụp đổ. Tình Ái cũng
bị làm phương tiện khám phá đời sống, khai quật ý thức".
Không có cứu cánh, không còn cứu cánh,
con người quay trở lại sự hủy diệt tròn (destruction circulaitre),
vô tội - có tội cùng sát nhân như nhau, một vòng luân hồi
trong hư vô, gặp lại Nietzsche. Tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền
nằm trong qũy đạo nghi vấn liên tục, luôn luôn đặt lại
vấn đề.
*
Thanh Tâm Tuyền và tình yêu Rất may nhà thơ nói vậy nhưng không phải vậy. Dù tình yêu chỉ là phương tiện khai quật ý thức, nhưng ông cũng vẫn dành cho tình yêu những lời tha thiết nhất:
Ðối chất với trữ tình lãng mạn: Tin tưởng và thần thánh hóa tình yêu, thì ở đây là một thái độ hoài nghi: đôi khi anh muốn tin. Nhưng hoài nghi trong xác quyết bằng những hình ảnh cực kỳ đớn đau: Những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình, lệ là những viên đá xanh, tim rũ rượi mà thi ca cổ điển và lãng mạn chưa mạo hiểm để liên kết những chất vô cơ như đá, với hữu cơ như nước mắt, cùng sinh vật huyền nhiệm như trái tim con người.
Sự tiếp cận của nhà thơ với tình yêu ở đây dường như đã ra ngoài cõi sống, ngoài cõi biết: ngủ trong lòng mộ, trong nghĩa địa thân thể anh, với áo cỏ may châm da thịt, bất ngờ, không nằm trong tầm với của nhiều người, nó lớn lao trong tình yêu, trong sáng tạo. Maurice Blanchot đã từng liên kết tình yêu, sự sống với cái chết như một guồng máy sinh động của cuộc đời, hiển nhiên qua nhiều giai đoạn: Tình yêu là cơ nguyên của sự sống, trong một cuộc chiến cam go: Khi vượt tuyến vào vòng trứng, bao nhiêu tinh trùng đã bỏ mạng? Cuộc đời thoát thai từ chiến tranh, từ nhiều cái chết và tình yêu đưa đến sự hủy hoại trước khi tái tạo một tinh thể mới. Trường ca Ðêm trong Liên Ðêm Mặt Trời Tìm Thấy trổi dậy những nét đớn đau ấy, có phần khốc liệt hơn: Tội ác dần dần tái chiếm lãnh địa, tình yêu mắc bạo bệnh, thổ huyết, chết quằn quại bên một nhân loại lầm lì, sa đọa và cô độc.
*
Thanh Tâm Tuyền và mầu da. Trong những nỗi đau của Thanh Tâm Tuyền, có cái đau nhỏ: đau chia đôi đất nước (bài Vĩ Tuyến), có cái đau lớn: đau mầu da, đau thân phận nhược tiểu của con người (bài Ðen).
Ðen đoạn tuyệt với lối phê phán xã hội để bước vào hiện thực hiện sinh: Nhà thơ không đứng ngoài để tả chân về một người nghệ sĩ da đen, ông nằm trong da, trong thịt, trong máu, trong nước mắt, trong tiếng kèn của người nghệ sĩ để phóng ra những âm thanh, những hình ảnh khốc liệt của một khúc hát đen, trong bầu trời đen, với những giòng nước mắt xé nát thân thể bằng tiếng kèn đồng, trên mầu da nức nở. Ở ngoài không thể làm được như thế, phải ở trong, ở sâu mới đi đến kiệt cùng, đến thế. Xác đáng ghê gớm về mặt hiện thực, nhưng cả bài thơ là một dòng tư tưởng trong trạng thái quặng mỏ, chưa đãi lọc, chưa có dấu vết kiểm duyệt của lý trí, những hình ảnh cứ mặc sức tuôn ra theo giòng máu, bắt người đọc phải nín thở trườn theo mạch thơ vì mỗi xuống hàng đều bắc cầu liên tục với câu trên, không ngừng đứt: Niềm đau hội tụ từ hồng tâm đen, tóe máu đen ra tứ phía, nhuộm đen vũ trụ, không gian, thời gian và âm nhạc. Ðồng thời cũng từ hồng tâm huyết cầu này toát ra những hủy thể trường kỳ của sự sống: Xé nát thân thể, giọng của máu của tủy của hờn, tan vỡ hôm qua hôm nay kể gì ngày mai... toát ra những bất công mãn kiếp của những số phận: trần truồng tủi cực hơn xác thịt, quên chẳng thể được quên, chọn ngoài thể xác ngoài thương yêu ngoài dữ tợn, chọn thế giới kim châm ... toát ra tính chất bất kỳ, phi lý của mầu da, của người dân nhược tiểu không có quyền lựa chọn, và cuối cùng pha trộn với sự trốn chạy của thời gian và không gian làm nên một thứ hủy diệt tròn: không gì có thể giải quyết nổi. Nỗi đau đen không chỉ là nỗi đau của người nghệ sĩ kèn đồng đêm ấy, nó là nỗi đau của nhân loại, tiết ra từ xương, từ tủy, từ giòng máu đen khốn nạn trong mỗi chúng ta với những ác tâm, kỳ thị, phân biệt chủng tộc. Chính dòng máu đen ghê gớm ấy đã xé nát thân thể, đã cào cấu huyết mạch những tâm hồn không được quyền chọn mầu da của mình. Dòng máu đen "vô tội" của mỗi người được dấu kín trong tiềm thức, giả đò quên đi trong vô thức, nhưng luôn luôn chẩy ngầm trong huyết quản mà chỉ những nghệ sĩ đích thực mới cả gan đào sâu, cắt mạch cho nó tóe ra trong địa ngục con người. Họ là tự do. Họ là sự thật. Tháng 9/1995
Chú thích
© 1991-1995 Thụy Khuê
|