|
Thụy Khuê trả lời phỏng vấn của Tru Sa
Thụy Khuê sinh năm 1944, quê gốc Hải Hậu, Nam Định, năm 1954 bà theo gia đình vào Nam rồi du học Pháp rồi ở lại, năm 40 tuổi, nhận thấy trong nước không thiếu nhà văn có tài, nhưng ngành phê bình còn rất hạn chế, nên bà dấn thân vào hành trình viết phê bình, biên khảo, vừa viết vừa học hỏi, làm việc không ngừng, cho đến giờ bà vẫn miệt mài với công trình về Lịch sử truyền giáo và chữ Quốc ngữ. Chủ đề viết của Thụy Khuê đa dạng nhiều thể loại, từ phê bình văn học (Sóng Từ Trường, Phê bình văn học thế kỷ XX), biên khảo lịch sử (Vua Gia Long và người Pháp), cho đến phỏng vấn, chân dung, phim điện ảnh (Trần Anh Hùng), nhạc (Phạm Duy, Cung Tiến), hội họa (Lê Thị Lựu, ấn tượng hoàng hôn, Lê Bá Đảng, cuộc đời và tác phẩm), lối viết của bà mạnh, bạo, đa góc nhìn, lại dùng ngôn ngữ sáng tác cho phê bình nên luôn tạo được sự mới mẻ về cách dụng chữ, mỗi bài viết của bà một đề tài nghệ thuật. Viết về tác phẩm là để nhìn thấy thế giới tâm hồn tác giả, qua đó mới hiểu vấn đề của con người trong thời cuộc, có thể nói, tác phẩm là bằng chứng thép cho sự hiện hữu của mỗi cá nhân và người viết phê bình có trách nhiệm khơi lại, giải mã những trầm tích nằm bụi, có như vậy người đọc mới biết, ai đã biết thì biết thêm, hiểu thêm giá trị của dân mình, đấy là cách làm việc của Thụy Khuê. Phỏng vấn một nhà văn đã khó, phỏng vấn một nhà phê bình còn khó hơn, nên tôi chỉ dám soạn ra những câu hỏi cần thiết mong có được sự phản hồi từ thế hệ đi trước mà Thụy Khuê là cái tên đáng tin cậy, luôn nhiệt huyết với lớp trẻ. Phỏng vấn hỏi đáp là hình thức cho cuộc thưa chuyện giữa tôi và bà, hai thế hệ, vì nghệ thuật mà biết nhau, bởi nghệ thuật mà tương ngộ. Tru Sa
Tru Sa: Trước hết, tôi xin gửi lời thưa đến nhà phê bình Thụy Khuê và đức lang quân, người luôn đồng hành với vợ trong mọi hành trình, chúc bà mỗi ngày mỗi khỏe. Năm 40 tuổi bà mới viết phê bình, lại viết ở Pháp, nghĩa là đã có sự ngăn cách với tình hình văn nghệ trong nước, bà có thể chia sẻ những khó khăn trong thời điểm đó, nhất là việc tìm kiếm tư liệu đọc cũng như cách để kết nối với lớp văn nghệ sỹ trong nước? Thụy Khuê: Cảm ơn Tru Sa, câu hỏi này rất cần thiết. Đúng thế, tôi quyết định viết phê bình và bắt đầu tìm hiểu lý thuyết phê bình hiện đại của Tây phương trong thế kỷ XX, ở tuổi 40. Nhưng đối với ai cũng vậy, cuộc đời không bắt đầu từ tuổi 40, mà từ thời thơ ấu. Tôi học cách làm văn, từ thời tiểu học, với sách dạy làm văn của Nguyễn Hiến Lê. Lên trung học, tôi đọc Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, đọc những tác phẩm chính của Tự Lực Văn Đoàn và của những nhà văn lớn khác như Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng… đó là hành trình tôi mang theo sang Pháp năm 1962, ở tuổi 18. Trong những năm lập gia đình và nuôi con, chị tôi vẫn gửi cho các tác phẩm in ở miền Nam, nên tôi tiếp cận với Văn Học Miền Nam gần như trực tiếp, dù sống ở Pháp. Sau này, từ khi tôi quyết định viết phê bình (1987) và nhận phụ trách chương trình Văn Học Nghệ Thuật của đài RFI (1990), tôi lại có cơ hội tiếp xúc với các nhà thơ, nhà văn trong nước như: Lê Đạt, Hoàng Cầm, Nguyễn Huy Thiệp… rất thường xuyên qua điện thoại viễn liên Paris-Hà Nội. Vậy tất cả là một hành trình khởi đi từ tuổi thơ, chứ không bắt đầu ở tuổi 40. Tuổi 40, chỉ là tuổi quyết định học hỏi và viết phê bình. Nhưng phải nhờ đến hành trang tích lũy từ thời thơ ấu; đó là cái rễ, giúp mình bám sâu xuống đất; nếu chỉ có cái ngọn không, thì không làm được gì cả. Tru Sa: Theo tôi biết thì giáo sư Nguyễn Văn Trung là người đã tận tình hướng dẫn bà chuyên sâu vào ngành phê bình văn học, ông nhắc bà phải đọc, đọc thật nhiều, đọc đến nơi đến chốn, mỗi tác giả đã đọc là đọc toàn bộ tác phẩm, thậm chí để biết về tình hình trong nước thì phải đọc từng mảnh báo. Liệu đây có thể coi là bí quyết chất nặng hành trang cho người viết phê bình? Thụy Khuê: Những thông tin này không đúng đâu. Không biết do ai viết, có những câu hết sức vô lý. Sự thật không phải thế, vì tôi không thể viết câu này: mỗi tác giả đã đọc là đọc toàn bộ tác phẩm, thậm chí để biết về tình hình trong nước thì phải đọc từng mảnh báo? Tôi nghĩ rằng: ta nên đọc những tác phẩm chính của mỗi tác giả mà ta muốn phê bình. Còn tôi, làm sao tôi có báo ở trong nước mà đọc từng mảnh? Tôi vẫn coi giáo sư Nguyễn Văn Trung là một trong những người thầy, nhưng tôi không “học” trực tiếp ông bao giờ, bởi vì khi tôi gặp ông lần đầu, lúc ông sang Pháp năm 1993, tôi đã viết phê bình được 7, 8 năm rồi. Tôi coi ông là một trong những người thầy như Nguyễn Hiến Lê, Hoàng Xuân Hãn, là những người tôi đọc sách và học được ở họ nhiều điều quý giá, ví dụ ở Nguyễn Hiến Lê, tôi học cách viết văn, ở Hoàng Xuân Hãn, cách viết nghiên cứu một cách khoa học, ở Nguyễn Văn Trung, tôi khâm phục cách ông giới thiệu và đưa các tác giả viết phê bình hiện đại Tây phương vào văn học Việt Nam từ những năm 1963, 1968. Chúng ta nên biết: không ai tự nghĩ ra điều gì cả, tất cả đều do người trước viết rồi. Mình nên tự coi như cái bình nước, viết là lấy nước từ trong bình ra, nếu cứ lấy mãi mà không đổ thêm nước vào thì bình sẽ cạn. Việc viết cũng vậy: nếu ta cứ viết mà không đọc, không cho trí óc những món ăn mới, thì bình sẽ cạn, và ta không thể sản xuất ra được điều gì hay nữa. Vậy có thể nói, bí quyết của việc viết phê bình hay sáng tác là việc đọc. Và việc chọn sách là tùy sở thích và kiến thức của mỗi người. Tru Sa: Thường thì, một người chỉ chuyên môn được một thứ, nhà văn viết truyện ngắn, tiểu thuyết, chuyên luận, là những thứ thuần văn, nhà thơ thì làm thơ, lúc viết văn xuôi thì sáng tác theo thể thức đầy tính thơ, ngoài phê bình văn học bà còn làm biên khảo, lại là biên khảo lịch sử-ngành nghiên cứu nhọc nhằn thuộc hàng bậc nhất, lý do nào khiến bà kiên trì theo đuổi biên khảo, làm sao để cân bằng tư duy viết giữa phê bình và biên khảo? Thụy Khuê: Mọi chuyện trong một đời người, luôn luôn có gì như tiền định và cũng do ta định. Trường hợp của tôi xin nói vắn tắt: Năm 1984, khi trở về nước, tôi bị sốc, và tôi viết một bài kể lại chuyến đi này, không ngờ bài viết được độc giả thích và từ đó mình bước vào “nghiệp văn”. Vào rồi, nhận thấy về mặt văn chương, nước mình không thiếu tác giả có tài. Còn về phê bình văn học, từ thời Vũ Ngọc Phan với bộ Nhà văn hiện đại (1942), ta chưa có tác giả nào thực thụ viết về phê bình hiện đại, trừ giáo sư Nguyễn Văn Trung, viết bộ Lược khảo văn học Việt Nam, Tập 1 (1963) và Tập III (1968), giới thiệu các lý thuyết gia Phê bình hiện đại của Tây phương. Nhưng ông viết rất ít bài phê bình, nếu tôi nhớ không lầm thì chỉ có bài Tiếng hát Thanh Thúy. Vì vậy, tôi quyết định đi vào địa hạt phê bình, từ năm 1987, và tôi đã tự học và viết phê bình từ thời điểm ấy, bài viết của tôi đều được để trên mạng thuykhue.free.fr, có một số đã in thành sách như: Sóng từ trường I, II, và III, in năm 1998, 2002 và 2005. Về lý thuyết phê bình, có cuốn Phê bình văn học thế kỷ XX, in năm 2017, ở trong nước. Về phê bình hội họa, sách in ở trong nước, gồm có: Lê Thị Lựu ấn tượng hoàng hôn (2018), Lê Bá Đảng cuộc đời và tác phẩm (2024) Từ Mỹ thuật Đông Dương đến Mỹ thuật Gia Định, đang in. Như thế, tôi chưa bao giờ ngừng viết phê bình. Việc nghiên cứu lịch sử, tôi bắt đầu vào khoảng 2013, khi tình cờ đọc trong bộ sách Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823 (Lịch sử truyền giáo ở nước Nam 1658-1823) của Andrien Launay, thấy lá thư của Giám mục Bá Đa Lộc viết gửi bề trên ở Macao, nói rằng: ông đưa hoàng tử Cảnh về Việt Nam, nhưng không mang được gì về giúp Nguyễn Vương. Tôi ngạc nhiên nhớ lại những điều mình được học từ trước đến giờ: Giám mục tự mộ quân lính và mua vũ khí về giúp Nguyễn Vương. Nhiều cuốn sử, còn đổi Giám mục Bá Đa Lộc thành vua Louis XVI, gửi quân đội, tầu chiến và vũ khí về giúp Nguyễn Ánh. Vì vậy, ta có “món nợ lớn với nước Pháp”. Thông tin man trá này dẫn tôi đến việc nghiên cứu lịch sử. Về nghiên cứu lịch sử, từ năm 2013, tôi cũng dò dẫm vừa học vừa viết. Với mục đích tìm lại sự thật lịch sử đã bị người Pháp sửa, để tỏ rõ “công lao” của họ đối với nước Việt và đổ tội làm mất nước cho nhà Nguyễn: vì tàn sát đạo Chúa khiến người Pháp phải “can thiệp” vào để cứu đạo, chứ họ không có ý đồ xâm lược Việt Nam. Sự trá mạo lịch sử đã trở thành sự thật trong những cuốn sử mà tôi được học từ thuở nhỏ, vì thế tôi phải tìm hiểu lại lịch sử đích thực đã xẩy ra như thế nào, trong cuốn Vua Gia Long và người Pháp (in năm 2017). Sau cuốn sách này, tôi tìm hiểu sâu xa hơn và thấy tất cả mọi sự bắt đầu từ khi các giáo sĩ Dòng Tên sang nước ta thế kỷ XVII. Vì thế, tôi soạn cuốn Lịch sử truyền giáo và chữ quốc ngữ, đã đưa lên mạng damau.org và site: thuykhue.free.fr từng kỳ, nhưng vì có nhiều công việc khác, nên cuốn sách này hiện chưa soạn xong. Tôi cố gắng hoàn thành trong năm tới. Không có sự “cân bằng” nào giữa “tư duy viết giữa phê bình và biên khảo”, đó là hai việc làm khác nhau, vì không được đào tạo ở trường ốc, nên tôi phải tự học từ đầu. Tru Sa: Trong bài phỏng vấn của Lê Quỳnh Mai, bà viết “Văn bản phê bình chỉ dành cho độc giả, không dành cho tác giả mà mình phê bình.” Quan niệm này có loại trừ tác giả khỏi danh sách độc giả? Thụy Khuê: Tôi rất buồn khi câu này được hiểu lầm như vậy. Trong bối cảnh của câu văn, tôi chỉ muốn nói rằng: người phê bình viết bài cho độc giả đọc, chứ không viết để làm vừa lòng nhà văn mà mình phê bình. Sở dĩ tôi viết câu đó, vì thấy có người viết phê bình Nguyễn Tuân, đưa cho ông ấy đọc trước xem ông ấy có vừa ý hay không. Và ở ngoài nước cũng vậy, có cả quyển sách tôn sùng Võ Phiến. Tôi rất kỵ điều đó, nên các nhà văn tôi quý trọng và thân thiết như Mai Thảo, tôi không thể viết bài về ông, khi ông còn sống, vì sợ ngòi bút của mình sẽ thiên vị vì tình cảm, trở nên nịnh bợ. Chỉ khi ông qua đời rồi, tôi mới viết. Còn trường hợp ông Võ Phiến, vì chỉ quen sơ, nên tôi đã viết bài về Võ Phiến khi ông còn tại thế. Tru Sa: Dương Nghiễm Mậu từng ngạc nhiên về định nghĩa Mậu truyện do bà đặt, ông Mậu hẳn đã đặt mình vào vai trò người đọc, đọc bài người ta viết về văn mình để soát lại chính mình, rồi ngã ngửa vì những góp ý không ngờ đến trong những gì mình viết. Trong một cuộc hội thảo về Bích Khê năm 2018, tôi nghe một nhà phê bình trẻ có nói “Phê bình văn học là phải hiểu sát với tác phẩm, chỉ được nói đúng, không được nói thêm, nói khác!” theo bà, một nhà phê bình chuẩn mực có cần chỉ hiểu đúng tác phẩm, tác giả viết gì thì phê bình đó? Thụy Khuê: Tôi rất khâm phục Dương Nghiễm Mậu. Tôi đưa được mục từ Dương Nghiễm Mậu vào Từ Điển Văn Học Bộ Mới, với sự đồng ý của giáo sư Nguyễn Huệ Chi, là điều tôi rất mừng. Bài phê bình Dương Nghiễm Mậu, tôi viết rất kỹ. Sau bài viết này, mỗi Tết, anh Mậu đều gửi email cho tôi, rủ về Sài gòn uống cà phê với anh, tôi luôn luôn trả lời bằng câu: Tết này chưa chắc em về được, vì lúc đó tôi đang bị cấm về nước, trong 20 năm (từ 1997 đến 2017). Đến khi tôi hết bị cấm, thì anh Mậu đã qua đời. Câu: “Phê bình văn học là phải hiểu sát với tác phẩm, chỉ được nói đúng, không được nói thêm, nói khác!” đúng trong chiều hướng muốn loại những bài “phê bình” hời hợt, tán hươu tán vượn, nhưng hẹp hòi và thiển cận. Người viết phê bình phải có óc quan sát, lý luận, phải đọc kỹ để hiểu và phân tích chữ nghiã và tư tưởng trong tác phẩm, nhưng cũng phải có óc tưởng tượng, để tạo ra lời hay, ý đẹp cho văn bản phê bình, sự tưởng tượng này phải ở trong vòng chữ nghĩa của tác giả, người phê bình không thể bịa đặt ra những điều không có trong tác phẩm. Tru Sa: Có hai giai thoại về bà mà tôi vẫn nhớ, 1: về Mai Thảo, đã mấy lần bà né mặt, có gặp cũng không rào đón, mãi sau này bị dàn xếp thì bà mới chịu đến, 2: Bà viết trong bài Lê Bá Đảng Hồi Hương rằng: Đã có một lần tôi đến nghe ông nói chuyện, thấy ngang phè, nên cho rằng những thiên tài không thể gần gũi được, chỉ nên kính nhi viễn chi. Với Lê Bá Đảng thì sự kết nối lại đến từ ấn tượng với bức tranh ký danh Lebadang treo ở sảnh tòa nhà Trump Tower, từ đó không còn sự ngăn cách nào giữa hai người, thế còn Mai Thảo? Nếu được, bà có thể trao lại trên trang giấy này chút kỷ niệm giữa Thụy Khuê với nhạc sỹ Phạm Duy, dịch giả Trần Thiện Đạo, nhà văn Phạm Duy Khiêm- những tiền bối đã cát bụi và Trần Vũ, người em cách trở chân trời? Thụy Khuê: Những “giai thoại” mà Tru Sa nghe được về tôi, có chỗ cần xem lại, vì không đúng lắm: – Về nhà văn Mai Thảo, ban đầu, tôi không tìm gặp ông, vì rất ngại xin làm quen người nổi tiếng. Mỗi năm, Mai Thảo từ Mỹ sang Paris vào mùa thu, đều ở nhà Luật sư Trần Thanh Hiệp, là bạn thân từ thời lập nhóm Sáng Tạo, năm 1956. Luật sư Hiệp quen thân với vợ chồng tôi và ông đã “giới thiệu” chúng tôi với Mai Thảo qua một bữa cơm ở nhà ông. – Còn về họa sĩ Lê Bá Đảng, Tru Sa nhớ lầm thứ tự ngày tháng: tôi biết và phục tài Lê Bá Đảng, từ năm 1984, khi nhìn tác phẩm của ông treo trong sảnh đường Tour Trump là tòa nhà chọc trời đầu tiên ở New York. Sau tôi được nghe ông nói chuyện ở Paris và thấy ông nói ngang phè. Đến khoảng 1990, họa sĩ đến nhà tôi gửi tiền cho báo Hợp Lưu của Khánh Trường và tôi quen ông từ độ ấy. – Nhạc sỹ Phạm Duy cũng đến thăm tôi, khoảng 1988, 1989. Sự thực như thế này: Tôi là trường hợp khá hiếm, là phụ nữ mà lại viết phê bình, và có những bài tốt, nên được đàn anh yêu quý lắm. Tôi không bao giờ quên ơn họ, đã giúp tôi rất nhiều trong những ngày đầu của nghiệp văn và nhất là trong 18 năm tôi phụ trách chương trình Văn học Nghệ thuật của đài RFI. – Dịch giả Trần Thiện Đạo ở gần nhà tôi, ông viết cho báo Văn từ trước 75, ông từ Paris gửi bài về Sài Gòn. Chúng tôi hay bàn cãi về việc dịch chữ này chữ kia sang tiếng Việt. Anh Đạo, người Nam, rất ghét các chủ báo người Bắc, sửa chữ viết theo kiểu Nam bộ của anh ra tiếng Bắc, anh gọi đó là chủ trương kỳ thị và muốn đô hộ miền Nam của dân Bắc kỳ. Anh có cách dịch cẩn thận vô cùng, thí dụ khi anh dịch truyện La Chute (Sa đọa) của Albert Camus sang tiếng Việt, anh phải đi Amsterdam xem cho rõ “không khí” của truyện, trước khi dịch. – Nhà văn Phạm Duy Khiêm là một bậc tiền bối, tôi viết về ông, nhưng không quen ông. Ông mất năm 1974 ở Pháp. – Nhà văn Trần Vũ là người tôi thân nhất khi Vũ còn ở Paris cùng với dịch giả Trần Thiện Đạo, chúng tôi thường ăn cơm tối và nói chuyện văn nghệ, cãi nhau đến khuya mới tan hàng. Tru Sa: Văn Học Hải Ngoại nối lại sự đứt gãy của Văn Học Miền Nam, kế thừa, nuôi dưỡng rồi phát quang, là người viết phê bình có nghề, có cơ hội tiếp cận với nhiều thế hệ nhà văn ở Hải Ngoại, theo bà, dòng văn học này có những tác phẩm nào là đặc biệt quan trọng để thế hệ cầm bút sau này ở trong nước và nước ngoài lấy đó làm nền tảng đắp bồi? Thụy Khuê: Tôi không nghĩ “Văn Học Hải Ngoại nối lại sự đứt gãy của Văn Học Miền Nam”, mà là một nền văn học khác của người di tản và người Việt sống ở nước ngoài từ trước. Hai dòng người này, tâm sự hoàn toàn khác nhau, nhưng cùng chung ý nghĩ bảo tồn tiếng Việt. Dòng văn học nào cũng quan trọng và cần được tìm hiểu cặn kẽ. Nước ta vì hoàn cảnh đã phân rã con người và tác phẩm. Người ở trong nước, Nam Bắc không đọc lẫn nhau. Người ở trong nước, cũng không đọc được tác phẩm của người viết ở hải ngoại. Và bây giờ đã có Internet thì người ta không đọc văn chương nữa, mà đọc và viết facebook. Nếu tôi nói đến những tác giả như Nguyễn Mộng Giác, Võ Đình,… ở hải ngoại, chắc Tru Sa cũng không biết họ là ai. Chỉ khi nào có một chính sách tìm đọc và in những tác phẩm giá trị đã bị thất tán của hai nền văn học miền Nam và hải ngoại, thì may ra “thế hệ cầm bút sau này ở trong nước và nước ngoài [mới có thể] lấy đó làm nền tảng đắp bồi”. Đã trễ quá rồi chăng? Tru Sa: Ở độ tuổi nào hoặc giai đoạn nào đó, con người luôn nhìn về sau, vương vấn mãi một chặng đời ở thì lịch sử, là ký ức về ai đó trong gia đình, ai đó mình thân thương hoặc điều gì đó đã nguội, đã rơi, tàn vong không cách nào tìm lại. Ngoái về sau lắm khi chỉ thấy những ký ức tàn dư trên núi mộ, với người thường thì là mộ đời, nhìn được chạm được còn với người tài danh thì thêm mộ hồn. Có lúc nào bà ngước ra những mộ hồn từng một thời gắn bó, thì thầm gì đó không? Thụy Khuê: Tru Sa nói văn chương quá. Tôi nghĩ ai cũng ngoái nhìn “về sau”. Mỗi ngày, mỗi giờ, mình đang sống, đều có sự “ngoái lại”, tức là nhìn lại quá khứ, nhiều khi mình không kiểm soát được, quá khứ vẫn hiện ra. Thí dụ: một màu đỏ cũng đủ gợi cho ta cánh phượng bên hồ Gươm. Khi pha nước mắm cũng làm ta nhớ cách pha của mẹ… Là người cầm bút, tôi cũng như những người viết văn khác, sống rất nhiều trong kỷ niệm. Vì viết phê bình, nên tôi luôn luôn đọc những tác phẩm của các nhà văn đã qua đời và như thế, mình bị hay tự “trầm mình” vào cõi xưa, vào những “mộ đời” như chữ của Tru Sa, là điều không thể tránh được. Tru Sa: Bà có lời nào nhắn gửi đến thế hệ trẻ, những người đang xuân trẻ, những người mới chào đời và rồi đây sẽ có người theo nghiệp cầm bút? Thụy Khuê: Tôi xin nhắn với các bạn trẻ muốn đi vào nghiệp cầm bút: ngoài tài năng, bạn cần có hai đức tính: thành thật và nhân ái.
Thụy Khuê
|