Thụy Khuê

 Lê Bá Đảng
 



Mỗi khi có dịp trình bày quan niệm nghệ thuật của mình, họa sĩ Lê Bá Đảng thường nhấn mạnh ba điểm sau đây:


- Nghệ thuật của một dân tộc chỉ có thể tồn tại được nếu nó bám rễ vào đời sống và mang cá tính độc đáo của dân tộc ấy;
- Lê Bá Đảng đưa ra một phong cách tạo hình mới thoát khỏi truyền thống hội họa điêu khắc Tây phương, ông muốn trình bày một nghệ thuật tạo hình, không tượng, không tranh, dựa trên những nguyên liệu vật chất hoặc hư không do chính người nghệ sĩ tạo ra;
- Nghệ thuật không chỉ dành riêng cho một số ngườì may mắn có khả năng mua tranh, mua tượng, hoặc chỉ nằm khô trong viện bảo tàng, mà phải hòa hợp với thiên nhiên, đi vào đời sống, để tất cả mọi người dù ở tầng lớp nào, cũng có thể thưởng ngoạn.
 


Như để thực hiện quan điểm bình dân hóa và phổ biến hóa nghệ thuật, Lê Bá Đảng luôn luôn tìm cách bội phân những tác phẩm của mình thành nhiều phiên bản, giá bán rẻ đi, nhiều người có thể mua được, nhưng chất sắc và giá trị vẫn là nguyên bản. Những năm 70, để sáng tạo Lebadangraphy, ông đã tìm chất giấy riêng in tranh, từ những bản khắc trên đá, khiến cho tranh in của ông không còn là một sản phẩm phiên bản (reproduction) tầm thường mà nó giữ trọn vẹn những chiều sâu, những nét gồ, nét trũng của bức tranh thật.


Rồi ở thời kỳ Tấn Tuồng Nhân Loại (La comédie humaine) những năm 80, một loại chất liệu giấy khác ra đời, tạo cho những vi nhân, vĩ nhân của Lê Bá Đảng có một không gian nhân vị, tự do, có chất khinh khoát của lời, có cái dị hợm của cá tính và thể xác, miêu tả những trạng thái và tình thế của con người trong cái bể khôn lường của Tánh.


Không Gian Lê Bá Đảng giữa thập niên 80-90, ông không vẽ trên giấy nữa mà cắt dán và tạo ra một chất liệu mới mang chiều dầy của vật thể, có thể gói trọn khí quyển và tạo vật trong cùng một "không gian"; chính ở đây, ông đã bắt đầu đường lối tạo hình mới: không tượng, không tranh mà tổng hợp cả tượng lẫn tranh.


Trong khoảng năm, sáu năm gần đây, nghệ thuật của Lê Bá Đảng càng ngày càng đi sâu vào đời sống hơn nữa. Năm 1997, ông thực hiện Động Lê Bá Đảng, công trình kiến tạo nghệ thuật ở miền Baux de Provence, thắng cảnh miền Trung Nam nước Pháp, với những chủ đề Âu Cơ, Âu Lạc, như muốn tái tạo "một nguồn gốc Việt, một lịch sử Việt" trong hang động bên trời Tây. Đồng thời ông phác họa nhiều sơ đồ kiến tạo nghệ thuật trong thiên nhiên, hy vọng sẽ thực hiện trên đất Việt, chủ đích đem tác phẩm nghệ thuật vào Trường Sơn, lên núi Sóc Sơn - Phù Đổng... tạo ra những bảo tàng viện thiên nhiên không giới hạn, tất cả đều có thể tham dự: từ cánh chim, cọng cỏ, ngọn gió đến con người. Nghệ thuật Sắc Không (Le Vide et le Plein) tiếp nối Không Gian Lê Bá Đảng trao nền móng mới cho hệ thống bảo tàng viện thiên nhiên này. Đồng thời, ông sáng tạo Tranh Hai Mặt (Double face), một loại tranh khắc mỗi mặt đều là tác phẩm nghệ thuật. Rồi ông lại trở về với sơn dầu, mầu nước qua loạt tranh mắt.


Sau thời kỳ Mắt, Lê Bá Đảng bước vào thời kỳ giống như Thiền, với những mặt người, nửa thiền nửa Phật, nhưng ông bảo, không phải là thiền là Phật.... Hỏa diệm Lê Bá Đảng đầy ắp phún thạch chồng chất lên nhau, sẵn sàng tung ra hết lớp này đến lớp khác ... ở tuổi 80.

 


Ngựa



Ngựa và người trong tiếng Việt, vô tình hay hữu ý, có cách phát âm gần giống nhau. Những âm hao tương đương ấy, chiếu vào sáng tác của Lê Bá Đảng, trở thành một mã quan nghệ thuật độc đáo.
Đối với Lê Bá Đảng, ngựa là một nhân vật. Đây không phải là điều mới. Từ thời cổ Hy La, ngựa đã là người, đã có những con centaure ngựa-người (ngựa đầu người). Ngựa còn biểu dương cường lực, sức mạnh dẻo dai, bền bỉ, ngựa mang ấn tượng ra đi, tự do vùng vẫy, ngựa là biểu tượng của chinh nhân, chinh phục, của dục vọng, chiến tranh, tính dục... trong con người. Nhưng người luôn luôn coi ngựa như loài súc vật, tuy khôn ngoan, thông minh, nhưng vẫn là thú. Với Lê Bá Đảng, ngựa thực thụ là người, thế giới ngựa của ông là thế giới tự do, quần tụ những vũ bão, mơn trớn, phong ba, dục tình dục vọng, là thế giới của chinh phục. Ngựa chinh phục người.
Thế giới ngựa Lê Bá Đảng là thế giới bất kham, hỗn tạp giữa ảo và thực. Tất cả những biến chuyển tâm linh và hình thức của con người hiện hình trong chân dung ngựa. Với ngựa, nét bút của ông linh động, vùng vẫy, dường như cái mà họa sĩ muốn bộc lộ trong tranh là cái nhân tính nơi con ngựa. Ông đạt. Ngựa của ông có sức quyến rũ mê hoặc của những nhân vật ảo huyền, kỳ bí. Khi đã bắt được vùng nội tại thâm trầm và u uẩn chung giữa người và thú, người nghệ sĩ có thể giải mã được những khó khăn ngăn cách giữa vật và nhân. Ngựa hóa thân thành họa sĩ: Chị Mã trong một truyện ngắn của Lê Bá Đảng. Sức sáng tạo của Chị Mã cũng ảo huyền, huyễn mộng và sinh động như trần thế con người. Nếu so sánh thế giới ngựa của Lê Bá Đảng với thế giới kịch người của ông, người xem không khỏi ví thú tính nơi con người với nhân tính nơi con vật. Dường như chính ngọn bút của các Chị Mã đã vẽ nên những sinh vật li ti, hoạt náo, triền miên, trong vòng: ăn, ngủ, đụ, ị, đi, đứng, đánh, đấm, khóc cười, gian manh, đạo đức, tội ác và nhân ái... cuồng quay trong địa ngục trầm luân, thiên đường tục lụy của thế giới loài người. Sự lựa chọn hài hòa người-ngựa, dường như đã vô hình định trước: Bằng âm thanh gần gụi ngựa-người, bằng sự uyển chuyển thân thể giống nhau trong tác hợp nòi tình, bằng động tác thiên di, bằng lòng yêu tự do, bằng mãnh lực quật khởi... Ở Lê Bá Đảng, có sự nhập thần giữa người và ngựa, có sự phân thân giữa người và ngựa, và người xem tranh không phân biệt được chính người vẽ ngựa hay ngựa vẽ người. Họa sĩ đã xóa nhòa biên giới giữa nhân và vật để tác thành một thế giới tạo vật huyền đồng trong nghĩa Lão Trang. Ông tạo thế giới ngựa bằng những dessin cực kỳ giàu có về nét, uyển chuyển, có ma lực, mã lực và hỏa lực biến những quang cảnh thông thường trở nên ngoạn mục và mộng tưởng.
Ngựa của Lê Bá Đảng không chỉ là những sinh vật hình thức mà tự chúng thoát ra đời sống tâm linh trong ánh mắt, trong nụ cười, trong mọi tác động thể xác và thú tính: Ngựa buồn, ngựa vui, ngựa trầm ngâm, ngựa đắng cay, đau khổ, ngựa lồng, ngựa phóng, ngựa đá, ngựa ăn, ngựa ngủ, ngựa dằn dữ, phong ba, ngựa yêu, ngựa ghét, ngựa nằm, ngựa đứng, ngựa ngồi... Tất cả những tư thế, những ngậm ngùi của ngựa đều được khai triển, trong những chiều kích khác nhau, bằng những chất liệu khác nhau. Mỗi khi có một nồng độ nào đó dâng lên trong huyết quản của người nghệ sĩ, thì lại có... ngựa, mỗi con ngựa là sự giao thoa giữa một cảm xúc bất kỳ, với một làn sóng không tên dấy lên từ trực giác sáng tạo, cái mà Francis Bacon gọi là accident, tôi xin gọi là tia chớp lóe lên từ một cõi không, biến không thành có, biến ngựa thành người.

 



Tấn Tuồng Nhân Loại



Có thể nói mỗi thời kỳ hội họa của Lê Bá Đảng, đều phát xuất từ bi kịch cá nhân. Cuộc đời trực tiếp của tác giả và những người thân đã là củi lửa cho tác phẩm, những kịch người mà ông đặt tên là tấn tuồng nhân loại (comédie humaine) thoát thai từ những trò đời, trò điếm, mà tác giả đả trải qua.


Nếu từ ngựa, Lê Bá Đảng cấu tạo thế giới lạc quan về người, thì với người, ông đứng ở tư thế ngược lại. Ông vẽ người dưới góc độ thú, hoặc ít ra là bằng cái nhìn của thú về người. Francis Ponge đã từng nhìn người bằng mắt ốc, mắt sỏi... Lê Bá Đảng nhìn người bằng mắt ngựa, mắt mèo, mắt núi, mắt sông... và như thế, chưa chắc người đã cao và sâu hơn thú hoặc vật.


Người xem đặt biệt chú ý đến những nét mỏng, nét đơn, tôi gọi là những nét bi quan Lê Bá Đảng:
Nếu trong tranh ngựa, nét của ông tung bay, giàu có, hoành tráng, thì trong tranh người, ông hà tiện nét, nét của ông hoài nghi, cay độc, châm biếm, đôi khi đến độ suồng, dâm... Những nét ấy nói hộ tranh, chúng bộc lộ những gì thoát ra từ cuộc sống tráo trở của con người với những hỉ, nộ, ái ố, lạc... trong trạng thái trần trụi thê thảm nhất và vì thế, cũng khôi hài, hạ tiện, cũng đơn mỏnglật lọng như phận người.
Dessin của ông đã sốngsáng hộ người, trong cái tư thế vừa mong manh, vừa bạc bẽo, nhạt nhẽo, phận sao phận bạc như vôi. Chúng biểu trưng cảm nhận bi quan của Lê Bá Đảng về con người, chúng là hiện thân thói đời đơn bạc, đảo điên, thế bấp bênh trong cuộc sống. Chúng vắt vẻo cái mong manh trong sinh mệnh con người treo ngành giữa sống và chết.


Lê Bá Đảng dùng nét vừa như chất liệu hội họa, vừa như dung cách họa sĩ, vừa như nhân cách của đối tượng hội họa tức là con người. Và hiếm có nghệ sĩ nào, chỉ với khía cạnh dessin không thôi, có thể phủ lấp nhiều diện mạo nghệ thuật như thế.
Hình như Lê Bá Đảng ghét người. Ông thao túng con người bằng những nét mỉa mai, châm biếm, Lê Bá Đảng nhìn và thực hiện cõi nhân sinh bé tí trong những trạng thái ngoạn mục và khôi hài. Ở đây, chữ nhân đi liền với chữ dục, thế giới người của Lê Bá Đảng là cõi nhân dục triền miên. Ông vẽ những cái không thể vẽ được: cái phiếm và cái điếm trong con người.


Tính cách biếmđiếm trong con người hòa hợp với chất rong chơi, hài hước của chính tác giả, tác hợp với những chất liệu cực kỳ đơn giản: mực tàu, nét mỏng, tạo không khí đối thoại, thỏa hiệp tay đôi giữa nghệ sĩ và những nhân vật do ông tạo ra: Nhân vật được nghệ sĩ nhìn và vẽ, đồng thời nghệ sĩ cũng là nhân vật. Nghệ sĩ ở trong nhân vật, nhìn và vẽ nhân vật bằng linh hồn và thể xác của chính mình.


Khi vẽ người, Lê Bá Đảng đã phân thân và hóa thân. Ông vừa vẽ, lại vừa là nhân vật trong tranh ông đang vẽ. Hành trình này thực hiện qua trọng tâm mắt. Vượt ra ngoài câu nói thường tình đôi mắt là cửa sổ của linh hồn, mắt đối với Lê Bá Đảng là hồng tâm sáng tạo. Mắt soi suốt tâm linh và thể xác người và vật. Mắt sống trong núi, trong cây, trong cỏ, trong sông, trong biển... Mắt ở thượng nguồn chẩy xuống miền xuôi: suối mắt, mắt phượng, mắt hiển linh, mắt thịt da, mắt dâm ô trụy lạc, mắt thú, mắt người...


Đối tượng bị vẽ sẽ được nhiều con mắt ở tứ phía chiếu vào như thế, và chính đối tượng cũng có quyền nhìn lại những quang cảnh xẩy ra trước mắt. Hiện tượng phức xạ này khiến cho những chân dung người trong tranh Lê Bá Đảng lạ lùng hơn những biếm họa khác: Chúng nhiều chiều. Xoay đi, xoay lại, nhìn dưới góc độ nào, mỗi nhân vật trong tranh đều có thể nhìn mình, đều có thể dở dói những hành vi khác nhau, những tâm cảm khác nhau. Chúng bộc lộ không những cả nội tâm lẫn hình thức của chúng, mà chúng còn cho biết những ẩn ức, những điều không nói, những ám ảnh, những mộng mơ, chưa thành hình. Nói triết, tác giả mở cho người xem vào cả các vùng ý thức lẫn tiềm thức trong con người. Nói gọn: Tác phẩm mở cho thấy chỗ có thể của con người. Và chính cái có thể đó, là cơ nguyên nghệ thuật, là nguồn cảm hứng bất tận của nhân sinh.


 



Không gian Lê Bá Đảng
 


Ý niệm về không gian không mới. Ý muốn biểu dương không gian, cũng không lạ. Nhưng ý thức được tính cách tương đối của sự vật trong vũ trụ, trong không gian, thì hình như chỉ Trang Chu mới thật sự đặt vấn đề. Nào chim bằng, cá côn, nào ao trời, gió lốc... Trang Chu "tạo hình" cho ta thấy cái vô cùng của tạo vật và cái lẽ tương đối ở đời.


Hội họa Tây phương, giàu kỹ thuật, nhiều tiến bộ. Nhưng thiên về biểu dương hiện thực, vẽ những gì thấy được, nắm bắt được, những "hiện thực cụ thể" (kể cả khi phá thể như lập thể, trừu tượng), dường như hội họa Tây phương chưa thật tình thám hiểm thế giới siêu hình, tâm linh, vần vũ về lẽ sống, chết, lý tương đối ở đời.
Hội họa phương Đông nghiêng về Đạo, về triết lý sống, nhưng lại chưa tìm ra những phương pháp tân kỳ để diễn tả một cách đa nguyên, đa dạng.


Hiếm hoi là những nghệ sĩ nhuần nhuyễn kỹ thuật phương Tây và triết lý phương Đông, để có thể tạo một con đường nghệ thuật phức âm, đa nghĩa, rọi ánh sáng và chiếu nhiều góc độ vào những trăn trở của con người về cõi sống, cõi chết, cõi biết, cõi không, về hư vô và cực lạc, về cái Đạo của con người, ở chỗ TâmVật không còn giới hạn phân chia.
Một vài họa sĩ gốc Á Đông, thấm nhuần cái học phương Tây, dường như đã tìm được con đường tiến đến sự hòa đồng Tâm-Vật, Âm-Dương, Hữu Hạn-Vô Hạn. Lê Bá Đảng là một.

 


Trong hành trình sáng tác, ông đã đi từ con mèo, con ngựa, con trâu đến... con người, và ở mỗi "con", ông đều cố gắng đào sâu đến nguồn ngọn, cỗi rễ của chúng. Ông biết rõ tâm can của chúng đến độ có thể chế tạo những "đầu-trâu-tâm-phật", "hình người-dạ thú", "khẩu phật-tâm xà"... Qua hơn nửa thế kỷ sống với nghệ thuật tạo hình, ông đã thuộc lòng cái thế giới "nhân vật cầm thú" mà ông tạo ra, ông cũng lại quá quen với khoảng không gian tầm thường của cái học hàn lâm, với lối nhìn "viễn cận" chưa hề thay đổi từ hơn 20 thế kỷ. Lê Bá Đảng muốn tìm kiếm, muốn thám hiểm cõi sống chết của con người, ngoài hội họa.
Không gian Lê Bá Đảng là sự phản kháng những không gian ba chiều đã bước vào tuổi hoàng hôn, là sự chống lại quan niệm lỗi thời của hội họa trường ốc, biểu dương lối nhìn một chiều: Vẽ những gì thấy trước mắt. Nghệ nhân có thể hồi khứ, ngoái lại dĩ vãng, nhưng vẫn phải moi ký ức ra khỏi óc, để nó lên bàn, trước mặt, mà vẽ.
Hội họa lập thể mở rộng hơn: Đối tượng vẽ, không im lìm, không "chết", nó có quyền chuyển động. Hội họa lập thể mở thêm chiều thứ tư: Chiều chuyển động cho tác phẩm.
Hội họa trừu tượng phá thể để ngòi bút tự do phân tích đối tượng, xé nát đối tượng, tiêu tùng hình thái. Mỗi nghệ sĩ tạo một lối vẽ, lối nhìn riêng về đối tượng; và người xem cũng có quyền có cái nhìn riêng về họa phẩm, theo ý mình, độc lập với nghệ sĩ.
Hội họa trừu tượng phá bung những định kiến, những hàng rào ngăn cách, để con người tự do thưởng ngoạn, tự do tưởng tượng và nghệ sĩ tự do sáng tác. Mối tương quan cố định về "đối tượng bức tranh" và sự cảm nhận của người xem không còn nữa. Hội họa trừu tượng lấy tự do làm đối tượng, và chính ở chỗ "tự do" ấy, con người mới thấy cái "giới hạn" của chính mình.

Lê Bá Đảng muốn thoát ra khỏi tất cả những ràng buộc về quy luật của nghệ thuật cổ điển, và cả cái "tự do giới hạn" của hội họa trừu tượng, để mở ra một cõi ta của riêng ông. Ông sáng tạo Không Gian Lê Bá Đảng.


Không Gian Lê Bá Đảng là gì?


- Về mặt kỹ thuật, đó là sự gặp gỡ giữa nhiều ngành nghệ thuật: Kiến trúc, điêu khắc, hội họa... Lê Bá Đảng không chỉ vẽ, ông tạo hình.
- Về mặt nội dung, đó là mối tương quan giữa người, vật và vũ trụ. Nhân sinh quan của Lê Bá Đảng có gì trùng hợp, gặp gỡ cái lẽ tương đối của Trang Chu: Cái nhỏ có lý của cái nhỏ, cái lớn có lý của cái lớn, phải cũng là lẽ vô cùng và trái cũng là lẽ vô cùng: Cứ lấy ánh sáng soi thì sẽ thấy cái tương đối ấy bật nẩy ra, và ông thể hiện cái lẽ tương đối ấy trong Không Gian Lê Bá Đảng. Cái nhìn của ông không còn là cái nhìn một chiều, hướng về trước mặt, mà nó biến đổi không ngừng.


Ở những mô hình Không gian thực tiễn, ông nhìn từ không trung, bằng con mắt loài chim, hay nhìn từ mặt trăng xuống đất. Tôi gọi đó là viễn cận "vạn lý". Với cái nhìn này, Không Gian Lê Bá Đảng thể hiện những nứt nẻ trên trái đất, những đỉnh cao, vực sâu, trong lòng đất, lòng biển; những đại dương mênh mông, những hỏa diệm sơn bừng cháy, đến cả những con kiến li ti là sinh mệnh và định mệnh của con người. Trong không gian thực tiễn, với viễn cận "vạn lý", Lê Bá Đảng có thể gồm thâu vũ trụ địa chất và thế giới nhân sinh trong một chiều kích không quá một thước dài, hai thước rộng.
Không gian ảo tưởng, ông tạo không khí siêu hình, giữa cõi sống và cõi chết. Ông "vẽ" cái hoang vu của hư vô, ông "vẽ" cái không và cái có. Từ kỹ thuật, chất liệu, cách sắp xếp đến mỗi hình thức trong không gian Lê Bá Đảng dường như muốn cấu tạo nên một thế giới, một vũ trụ ngoài màu sắc. Màu sắc chỉ là cái cớ để lưu lại với hội họa. Ông hay dùng sắc nâu, sắc xám, toàn trắng, toàn đen, màu đất nung, chấm phá những điểm son như những mốc, để tư tưởng, trí nhớ và tâm linh có thể trụ lại giữa khoảng vô thỉ, vô chung.


Đứng trước những tác phẩm này, người xem cảm thấy hoang mang, lạc loài, như mình là chứng nhân cái hữu hạn của cuộc đời đang giao lưu cùng cái vô hạn của vòng tử sinh, luân hồi, truyền kiếp.
Trong loại không gian thứ ba, Không gian lịch sử-địa tầng, người xem mường tượng thấy ý niệm thời gian liên kết với không gian: Con đường xuyên suốt quá khứ-tương lai, giao thoa với viễn cận xuyên địa, từ cung trăng xuống địa cầu, xuyên xuống những lớp địa từng, địa đạo. Tác giả cho ta cảm tưởng ông muốn hình ảnh hóa cả một thời kỳ lịch sử của dân tộc, xuyên qua những thửa ruộng khô, những cánh đồng cháy, những bãi cát dài, những ngôi cổ mộ, những lớp địa tầng, vào trung tâm trái đất. Ở một cái khung lơ lửng, mơ hồ, rêu phong kia, dường như thấp thoáng có hồn Trọng Thủy đang tìm dấu Mỵ Nương qua vết lông ngỗng xác xơ, tan tác... Ở một khoảng tối này, có phải Diêm Vương đang hành hình lũ tội đồ? Ở một không gian u ám trên kia, Hằng Nga đang cô đơn, giá buốt trên cung Quảng?...


Mỗi lần xem Không Gian Lê Bá Đảng là một lần khám phá. Tác phẩm của ông có nét hãnh tiến về tương lai, kèm nỗi khổ đau, trầm luân trong hiện tại và nỗi u hoài, nhớ về quá vãng.
Nghệ thuật của ông thoát hài, đập vỡ cổ kính để tạo ra không gian phi thời gian, gồm thâu quá khứ, vị lai, địa tầng, địa chất, cõi này, cõi khác trong khoảnh khắc một cái nhìn. Nó độc đáo, nhưng cô đơn. Ông cô đơn trên con đường sáng tạo của mình; nhưng chính sự cô đơn đó là đốm lửa soi đường cho Không Gian Lê Bá Đảng.

 


 

Hạt Gạo Trường Sơn
 

Vật thể hóa một hiện tượng tâm linh, đem những yếu tố hữu hình, vật chất, của thực nghiệm ra để phân tích một hiện tượng thần bí, đó là công việc của khoa học. Sinh hóa một vật thể, thần hóa một hiện tượng vật chất, thuộc địa hạt nghệ sĩ.
Hạt gạo trong lòng một dân tộc bẩy mươi phần trăm làm nghề nông, trở thành hạt đời, hạt reo mầm sống và hạt hạ mầm chết. Có gạo có sinh, không gạo không sống. Người ta sống nhờ gạo, với gạo, nhưng không coi gạo như một ảo vật huyền bí tạo sinh khi hột gạo đầy, không nhìn gạo như một biến hình khai tử khi hột gạo rỗng. Tất cả những cái nhìn vừa tâm linh, vừa tâm vật ấy thể hiện trong Hạt Gạo Lê Bá Đảng: Điêu khắc và hội họa hòa hợp để kiến tạo nên một sinh thể gạo mà tâm sinh vật, vật sinh tâm. Hạt gạo bá đảng tức là hạt gạo của trăm làng, reo rắc truyền bá lời nói thẳng, hạt gạo có bệ phóng như cái loa. Hạt gạo trực ngôn mang bản chất của người nghệ sĩ có tên Bá Đảng. như trăm, như cái loa, cứng như gỗ trắc, mềm và uyển chuyển như dây cương ngựa bằng da; đảng như thôn làng, đảng như lời nói thẳng; tất cả những ý nghĩa tiềm ẩn trong hai chữ Đảng, tên người nghệ sĩ.

Vật thể gạo nơi người nghệ sĩ này, đã được biến thành một sinh thể tâm linh và huyền thoại: gạo đầu lâu, gạo thạp thố, gạo ông Địa, gạo Rùa, gạo Âu Cơ trăm trứng, gạo âm ty, gạo vọng phu, gạo Thành Hoàng, gạo Thổ Công, gạo cá, gạo Bình Than, Diên Hồng, gạo Ngũ Lĩnh, gạo nước, gạo rồng rắn lên mây, gạo tiền sử... Lê Bá Đảng thể hiện gạo như một sự tìm về nguyên thủy. Trên đường đi, gạo bước qua lịch sử, bước qua truyền thuyết, gạo Bá Đảng là gạo sử thi của một dân tộc và qua dân tộc đó, là sử thi của con người.

Những yếu tố gạo ấy, sáng như những ánh tâm linh, đặc như thể chất, rỗng như hư vô, được họa sĩ vận vào phong cảnh Trường Sơn, như muốn nhân hóa thiên nhiên. Biến cõi nhiên giới thành nhân giới: Ông khắc tạc và reo rắc trên Trường Sơn những hạt gạo Bá Đảng, tạo nên một Trường Sơn mà nội tâm và ngoại cảnh giao thoa. Trường Sơn mới nổi bật những biến cố lịch sử con người mà Trường Sơn đã mục kích, đã sống từ thuở hồng hoang đến bây giờ. Trường Sơn ấy không chỉ là Trường Sơn thiên nhiên thuần túy vô hồn mà đã trở thành một Trường Sơn nhân văn, trùng điệp núi rừng, nặng mang dấu tích nhân sinh. Rặng núi dài xương sườn của đất Việt, có tâm, có ký ức, biết thổ lộ phần tâm ức của mình cùng suối, đèo, mây, gió, nói chuyện với những khách du tìm đến Trường Sơn, không phải như một vật thể đất đá, mà tìm đến Trường Sơn như một linh vật bảo giữ lịch sử và huyền thoại của một dân tộc.



 


Mèo
 


Hội họa Trung Hoa bắt đầu từ Thư pháp (calligraphie). Thư gia nổi tiếng nhất Hoa Trung là Vương Hi Chi, sống khoảng thế kỷ thứ tư, thứ năm trước Tây lịch. Những mộc bản đầu tiên để in ở phương Đông, đã khắc chữ của Vương Hi Chi. Một người tên là Pien Tsai giữ được cuộn giấy có chữ của Vương, Đường Thái Tôn phải dùng mưu để ăn cắp, tương truyền người ấy mất ăn mất ngủ rồi chết.

Chết vì mất chữ. Không phải ngẫu nhiên mà người Trung Hoa coi thư pháp là nghệ thuật chính, nghệ thuật nguyên thủy, bởi chữ của họ dựng lên tự đời. Mỗi chữ là một chân dung hiện tượng mà nó muốn gọi tên: Chữ nhân vẽ người, chữ địa vẽ đất, ...

Lê Bá Đảng không vẽ chữ, ông lấy vật làm chữ. Tại sao ông lại chọn Mèo? Vì hình như Mèo có mệnh hệ gắn bó với họa sĩ từ lâu: Mèo là con vật đầu tiên giúp Lê Bá Đảng thành danh (những bức tranh đầu tiên ông vẽ và bán được là những bức tranh mèo). Đối với Lê Bá Đảng, Mèo không chỉ là nguồn gốc phát xuất một tài năng, một tên tuổi. Mèo còn là chữ ký của tác giả.

Ông dùng mèo như một ký hiệu thuần túy tự họa. Nét mèo của ông, ở đây là ngôn ngữ, một thứ ngôn ngữ hội họa đầy thư pháp và thi pháp Đông phương, nhưng lại hiện ra như một thứ ngôn ngữ trừu tượng, siêu hình, rất Tây phương. Như dấu ấn hiện hữu của cái có, cái không, của cái hữu hình vô thể trong toàn bộ tác phẩm Lê Bá Đảng. Mèo vừa là chim, vừa là rắn. Mèo là những dấu hỏi: Đảng là ai? Là Tôi, hay là một tiền kiếp, hậu kiếp nào khác? Đảng có hay không? Mèo-Đảng là những dấu hỏi về cuộc đời, về những gì mà ta chưa biết, đã biết. Bởi người nghệ sĩ luôn luôn tự hỏi về mình, đến từ đâu, đi về đâu, như con chim trong nét mèo của ông, đã bay qua khắp nẻo, đo lường không gian, sải cánh thời gian để tìm tòi khám phá chiều sâu của vô tận. Bởi người nghệ sĩ luôn luôn trắc khảo cái đáy lòng người, hiểm sâu như rắn và rộng cao như trời đất.
 


Ở Lê Bá Đảng, Mèo thể hiện cả chim lẫn rắn. Bay như chim. Bò như rắn. Vũ trụ Mèo do ông tạo ra là vũ trụ người, bám sát đất mà luôn luôn tìm cách vươn cao, ấp mộng bay bổng không gian, tìm kiếm trên thượng tầng không khí một bầu quyển mới. Hỏi có gì nơi đó? Mèo thể hiện tính chất mâu thuẫn trong con người. Mèo là chữ ký của nhân sinh. Ký hiệu của cái biết và cái không biết. Ký hiệu của những không tưởng và ảo tưởng, nhưng cũng là ký hiệu của sinh loại: "đầu đội trời - chân đạp đất", vừa thực tiễn, vừa lắt léo trong lòng. Sau cùng và trên hết, những nét Mèo trong Lê Bá Đảng, biểu thể nghệ thuật tạo hình đơn sơ nhất, mộc mạc nhất, không phấn son, không màu sắc, như thể nghệ thuật khởi đi và cũng tìm đến một cõi nguyên khai tuy không mà có.

 


Nghệ thuật sắc không
 


"Sắc tức thị không, không tức thị sắc"
Muôn vàn sự vật, dù mang nhiều hình sắc nhưng chỉ do nhân duyên hòa hợp mà nên. Chúng không có thực thể, chúng rỗng. Vậy cho nên: sắc tức là không mà không tức là sắc.
Sắc hay là thể sắc (Le plein) gồm cả nội sắc lẫn ngoại sắc.
Nội sắc gồm những sắc căn hay ngũ căn: năm giác quan của con người: mắt, tay, tai, mũi, lưỡi. Ngoại sắc là những đối tượng mà ngũ căn nắm bắt được như màu sắc, hình tượng, âm thanh, mùi và vị.
Hai yếu tố sắc tướng (Le plein) và hư không (Le vide) vừa đối chất, vừa bổ sung cho nhau. Nghệ sĩ đã nắm bắt cả hai để đem vào tác phẩm.
Đám mây kia? Có hay không? Hay chỉ là muôn vàn hơi nước tích tụ lại? Hơi nước kia? Có hay không? Hay chỉ là sự bốc hơi của nước ở một nhiệt độ nào đó? Nhiệt độ kia? Có hay không? ... tất cả những câu hỏi kia đều vô thường. Lê Bá Đảng dựa trên vô thường để tạo vũ trụ sắc-không của mình qua vật chất và trên mạng lưới điện tử. Vật chất như đất, đá, sắt thép, giúp ông tạo hình; ánh sáng, điện ảnh và điện tử giúp ông biến hình, tác tạo một thứ không gian "ăn" vật chất: Vạn vật bị tan trong một không gian háu đói, mà đen tối là nền. Tóm lại Lê Bá Đảng thể hiện sự vong thân của vật thể: Sắc biến thành không, không "ăn" sắc, trong một không gian mà ông gọi là Bí mật Lê Bá Đảng.

Trước hết, hãy nói về sắc (le plein). Sắc ở đây được biểu hiện dưới hình thức không tượng mà cũng không tranh: Một vị sư ngồi thiền, nhưng hình như không phải sư, cũng không phải là tượng, vì tượng thì phải đầy, đằng này vị thiền sư rỗng. Sự "rỗng" vừa nói lên chất hư không Đông phương theo nhà Phật, lại nói lên chất hư vô Tây phương trong con người, theo hiện sinh vô thần của Sartre, và mở cửa cho khách thưởng ngoạn vào thế giới tưởng tượng của chính mình: Thiền sư còn đó hay đã tịch rồi? Có phải thiền sư hay chỉ là ảo giác? Nghệ sĩ muốn loại hết những yếu tố "thừa" trong tạo vật, trong nhân sinh, để chỉ giữ lại hai cốt lõi: sắc-không. Với những chất liệu như dây thép, dây vàng, dây gai... Lê Bá Đảng đã tạo ra nhiều hình sắc khác nhau: Nhện giăng tranh, mắt nhện, ngựa vờn, ngựa gió, khỏa thân, ngồi"thiền"... dây vừa tạo hình thức, vừa làm rỗng nội dung, khiến cho tác phẩm như chứa đựng hư vô trong mình.
Vũ trụ sắc-không như một sự phủ định của tác giả về thế giới nhân sinh mà ông đã tạo ra, như một sự xóa thể, vong thân, nhưng cũng lại là một cao ngạo phi thường của con người, muốn vươn đến cái siêu việt, vô cùng, vô thân, vô thể.


 


Tranh hai mặt
 


Phần đông các nghệ sĩ tạo hình thường chỉ chú ý đến một mặt của tác phẩm, tức là mặt ngoài, mặt trình diễn -khía cạnh phô ra trước cái nhìn của người xem tranh, xem tượng. Chẳng hiểu sao Lê Bá Đảng lại chú ý đến mặt sau tức là mặt trái của tác phẩm, phía mà mọi người không để ý. Có họa sĩ nào vẽ mặt sau của bức toile? nhà điêu khắc nào khắc trong lòng bức tượng? Vậy mà Lê Bá Đảng để ý đến mặt sau bức tranh, để ý đến trong lòng bức tượng : Ông tạo ra tranh hai mặt có phải là do ông đã thấy trong lòng trái đất một thế giới khác, trong lòng đại dương một vũ trụ khác như lòng người và đáy sâu tâm hồn khác với diện mạo bề ngoài. Cái đáy này có thể gọi là tiềm thức hoặc vô thức, nơi mà con người không biết rõ lắm, nhưng không thể phủ nhận. Vùng ấy hình như chứa đầy những hình ảnh khác thường, lành dữ lẫn lộn, sáng tối không rõ ràng, truyền thuyết và lịch sử pha trộn với nhau.
Để vẽ cả hai mặt ấy của người và vật Lê Bá Đảng dùng chất cứng như kim loại làm móng, rồi ông bồi thêm một chất liệu giống như vôi vữa để tạo nền. Trên chiều dầy kim loại và chất liệu xây dựng này, nghệ sĩ tạc hai mặt tác phẩm : Mầu sắc ở đây là mầu cổ, mầu rêu, rêu đen, rêu xám, màu hoàng thổ, màu sa hùynh, màu hồng hoang, màu long não, màu da đồng, màu quá khứ... Những đường khắc tạc trên tranh là những nét mơ hồ, như thể họa sĩ muốn vẽ vùng tiềm thức chứa chất muôn vạn hình ảnh mà không cái nào rõ ràng, bởi tiềm thức là cái kho huyền bí của tâm giới nhưng nó cũng lại là một thực tế rõ ràng như rong rêu trong lòng biển, như khối huyết tương trong lòng đất được hỏa sơn phun ra.
Tranh hai mặt Lê Bá Đảng thể hiện khía cạnh double face của sinh thể và vật thể : trái đất có lòng, đại dương có tim, con người có tâm.
Như Huệ Khả nói với Bồ Đề Đạt Ma: Tâm con không yên. Đạt Ma trả lời : Ngươi đưa tâm của ngươi ra đi. Huệ Khả đáp : Con tìm mãi tâm mà không thấy. Và Bồ Đề Đạt Ma bảo: Đó ! Ta đã yên tâm cho ngươi rồi đó. Huệ Khả giác ngộ. Lê Bá Đảng dường như muốn vẽ cái sự yên tâm ấy, theo Bồ Đề Đạt Ma. Mọi giải thích sách vở đều vô ích. Vẽ cái sự Tâm truyền Tâm, không qua văn tự. Tâm ở đây là vô hình, vô định. Như Tâm thiền tông. Khi không biết tâm mình ở đâu, ấy là đã giác ngộ.

Mỗi hình thái trong tranh hai mặt vừa là một miếng của vật chất, mà cũng là một mặt người hay một mảng tâm linh. Mỗi hình thái ấy dấy lên một cái gì bất định, không có chữ nghĩa nào xác định được đó là cái gì. Tranh ư ? Không phải ! Tượng ư ? Không phải ! Trừu tượng ư ? Không phải ! Hữu hình ư ? Không phải ! Bởi nó biến dạng và di động không ngừng như cái tâm con người trong ngôn ngữ Thiền Tông. Tức là tâm không cần giải thích, không cần bài bản sách vở để mô tả. Tác phẩm nghệ thuật cũng vậy. Không cần giảng. Nó truyền đạt trực tiếp : Tâm truyền Tâm. Lòng đến với lòng. Như lời Bồ Đề Đạt Ma.


 


Cõi Dục
 


Hồn tranh Lê Bá Đảng gọi về cõi giao hoan như một cuộc gặp gỡ nguyên thủy.
Họa sĩ tìm ra một cõi dục, với những dục ảnh, dục tình trong toàn bộ đời sống thiên nhiên tác hợp với con người.
Ông đi từ bối cảnh toàn thể vũ trụ để rẽ về thân xác. Từ thân xác, mổ xẻ những tế bào, những bắp cơ, những mạch tuyến... để khám phá động tác dục tình. Đối với Lê Bá Đảng, động dục chỉ là một cớ để họa sĩ tạo ra những phức hợp thần bí của đường nét. Dục động ở đây là sự giao hoan phong thủy giữa đài hoa và nhụy hoa, giữa phấn và noãn, giữa thần linh và ác quỷ, giữa đường nét và màu sắc, giữa chữ và nghĩa, giữa gió và mưa... Vị trí giao hoan thay đổi không ngừng như những hoàn cảnh, những thế đứng, thế ngồi, của các đường cong, đường thẳng, trên thân thể và trong cuộc sống ... đồng thời cũng là cuộc lạc hoan của những ý niệm, của mình với chính mình, giữa con người và vật thể, con người và thú tính, con người với bóng mình, con người với những giấc mơ.
Lạc hoan ở đây là sự tìm kiếm mà thân xác là một đối tượng nằm trong trời đất. Thân xác là cái đẹp thuần túy mà người nghệ sĩ muốn thể hiện trong tranh, trong tượng, trong những bức tranh-tượng hữu hình vô thể.

Xem tranh Lê Bá Đảng là tìm hồn và xác của cái Đẹp. Khi bạn thấy một bóng, một dáng, một dạng, một mảng ... người chen lẫn trong nước, trong trời, trong núi, trong mưa, trong mây, trong cây, trong lá... ấy là bạn đã thấy được "hồn" tranh; bởi dường như họa sĩ đã đem chủ thể hồn mình giấu trong cỏ, cây, mây, nước, dưới những đường nét bí mật của một tha nhân khách thể ngoài mình. Và sự kết hợp tâm-thân giữa hai thực thể cái-tôi và cái-khác-tôi, chính là cuộc giao hoan thầm kín và thăng hoa nhất giữa tình yêu và nghệ thuật, tạo nên Cõi Dục Lê Bá Đảng, như sự nhân hóa cảnh vật trong tâm hồn nghệ sĩ, ở mức độ sâu nhất: thân thể hóa vũ trụ trong cuộc giao hoan nguyên thủy.
Thân xác là con người. Tôi là thân xác tôi như Nietzsche xác nhận. Mục đích của nghệ sĩ là tìm hiểu mọi hiện tượng mà hiện tượng người là mục đích tối thượng. Hiện tượng người lại nằm trong thân xác. Bởi vậy nghệ sĩ đã đặt Thân Xác lên địa hạt Thần Linh. Một vị thần linh mà tư tưởng không ngừng khai phá, một đối tượng mà đồng tử tìm mọi khía cạnh để chiếu ánh nghệ thuật.
Hành động thâm sâu và thầm kín nhất của thân xác là giao hoan, một hành cử, hành ngữ tuyệt vời phát xuất từ tình yêu, nhưng cũng lại là một khu rừng cấm bởi bao nhiêu đạo đức, tôn giáo. Phá giới, người nghệ sĩ muốn đặt hoan giao lên đài vẽ, như một hiện tượng đích thực và chính yếu của thân xác, nghệ sĩ phá mọi hàng rào đạo đức xã hội để tìm đến hiện tượng cơ bản của con người trong trạng thái nguyên sơ, khi Adam và Eve nếm trái cấm lần đầu, và con mắt voyeur của Thượng Đế chưa kịp truy lùng sục sạo để cản ngăn và hành tội.


 


Mắt
 


Hỡi đôi mắt! Hồ thủy tinh trong suốt
Soi trần gian, địa ngục, vạn đời ma.

Bích Khê


Bích Khê hỏi mắt: Người là ai? Người hỡi người là ai?
Lê Bá Đảng tìm về đồng tử, ngôi thứ hai trong con người. Con ngươi, chúa tể của mắt (pupille, Christ de l'oeil) như lời thơ Apollinaire. Từ địa vị chúa tể ấy, con ngươi đã bao trùm lên sinh hoạt con người.


Mắt dưới bút họa Lê Bá Đảng là một thực tế bát quái biến dịch, có khả năng nói lên tất cả mà không cần lời. Mắt nơi ông là hành trình tự do và khủng hoảng của con người, vừa tình, vừa tội, vừa đam mê, vừa phản trắc, vừa âm mưu, vừa khốn khổ; mắt xác định cái tôi, mắt là cực lạc mà cũng là âm phủ. Mắt luồn lọt trong khắp mọi không gian, mắt chui xuống các lớp địa tầng, lạc trong lục phủ ngũ tạng để xoi mói, điều tra, mắt vừa là công an, vừa là tử tội.
Mắt, trong Lê Bá Đảng, khơi lên cái không khí Kafka u tối, tuyệt vọng, lừa đảo, đàn áp. Mắt Đảng tượng trưng cho một thế kỷ khốn cùng mà con người khó thoát khỏi bị đàn áp và tự đàn áp. Mắt Đảng nói lên cái không khí khủng hoảng -angoisse- trường thiên trong cá nhân thế kỷ, cá nhân bị đặt ống nghe trong phòng khách sạn, cá nhân bị ma ám, quỷ dò... tất cả những trạng huống đó phản ảnh trong ánh mắt hãi hùng, lòng đen chìm trong hố sâu huyền hoặc, đen hơn địa ngục, bàng hoàng hơn nhật thực, tăm tối hơn nguyệt thực.

Mắt loạn là một chủ đề khác trong Mắt Đảng. Một sự loạn thần, nhìn gà hóa quốc, nhìn trăng hóa sao, nhìn trời thấy đất... Lê Bá Đảng vẽ những loạn tưởng, những cuồng hoang bệnh não trong tâm hồn qua ánh mắt. Vẽ những phẫn nộ, những trạng huống hoang tưởng trong thị giới con người.
Mắt Đảng có hai giới tuyến: Mắt và Não. Não được trình bày như những đường tơ song song, hình thức sóng, gợi lại hình ảnh Thượng Đế trong câu tục ngữ Hòa Lan: "Thượng Đế tiến thẳng với những đường cong". Tuyến não đồng dạng với tuyến mắt. Đồng tử là trụ hỏa quang, từ đó các làn sóng não thùy xuất phát vừa để tung ra, vừa để phong tỏa các tin tức về trạng thái tâm linh con người.

Lê Bá Đảng trong những bức màu nước thực hiện năm 96, đã làm nổi bật sự giao hòa của thùy não và đồng tử trong các trạng thái khác nhau. Mỗi bức tranh đều là bệ phóng vào những vùng tăm tối của não thùy, vào những âm u của trời đất, của lòng người; bởi ông không chỉ thể hiện "phần người", mà tranh ông, luôn luôn từ người, biến trở sang vũ trụ, hoặc ngược lại từ vũ trụ trở về con người. Mỗi bức tranh tiềm ẩn sự hỗn mang trong tư tưởng, sự loạn thần của cỏ cây mây nước, sự vong thân của con người cầm thú, mắt người, miệng quỷ, tâm phật...

Mắt Đảng 2000, sự vong thân của mắt như dữ dội hơn với những bức sơn dầu lớn. Lê Bá Đảng thể hiện diêm cung trong đáy mắt. Một vòng xanh, đen, trầm, lặng, nguy hiểm như đại dương, vô thanh như niết bàn, nhưng cũng ghê gớm như một địa ngục tịch lặng. Các làn sóng não thùy ở đây cũng đã biến đi, tan đi; vùng sóng não, giờ đây, chỉ còn là một mặt bằng, thuần nhất, mặt bằng bích ngọc, lam ngọc, thủy ngọc... như thể tất cả tội ác rồi cũng tan tác, cũng cát bụi, như những kiếp người; trụ lại là những đáy mắt, ngục mắt, trục đồng tử không chết được, không tiêu tan được, đã đọng lại thành những tinh thể, đó là những linh hồn lang thang, không sống được ở cõi này, những cũng không siêu thoát trong cõi khác, bởi chúng đã chứng kiến, chúng đã nhúng tay vào sự hành hạ con người. Bởi chúng là chính con người sinh ra và chết đi, không lối thoát, vì con người vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm những tha hóa của chính mình.


 


"Thiền" họa
 


Trong Thiền Luận, có một chương Suzuki bàn đến Trụ xứ của Bồ Tát, và trong chương này, có chỗ Suzuki nhắc đến câu kinh trong Bát Nhã Bát Thiên Tụng: "Tâm của Như Lai không trụ bất kỳ đâu, không trụ trên các pháp hữu vi, không trụ trên các pháp vô vi và do đó không hề rời khỏi vũ trụ." Câu kinh này diễn đạt thuyết "Tánh không" trong đạo Phật.
Tôi là gì? Tôi ở đâu? Tôi từ đâu đến? Tôi đi về đâu? Tất cả những câu hỏi này có thể gồm lại thành một: Tự tánh của tôi ở đâu? Nghĩa là trụ xứ, chỗ trú của tôi ở đâu, do đâu mà tôi dấy lên hành động? Về câu hỏi này, các vị thiền sư có những lời đáp khác nhau.


Thượng Khê Liên khi được hỏi về phong cảnh Thượng Khê, sư đáp: "Con nước trước mắt chảy về đông." Thiền sư Minh ở Tương Đàm đáp: "Núi liền Đại Nhạc, nước tiếp Tiêu Tương." Thái Khâm ở Kim Lăng trả lời: "Không vẽ nổi". (Thiền Luận, Suzuki, quyển hạ). Tất cả những khẩu quyết trên đều nhắc tới trụ xứ của Bồ Tát.


Kinh Kim Cương đưa ra một khía cạnh khác của thuyết Tánh không: "Hãy để cho tâm của người khởi lên mà không cố định nó bất cứ ở đâu." Lời kinh hàm súc tàng ẩn một ý nghĩa thiết thực: "dựng tâm mình dạy mà không cố định nó bất cứ ở đâu", hay "làm chủ trọn vẹn chính mình".


Hai ba chục bức tranh mặt người dạng Phật khổng lồ thực hiện trong một thời gian rất ngắn, như thể trong mỗi sát na giác ngộ, người nghệ sĩ thấy được một Bồ Tát dấy lên từ vô thức để đi vào cõi tâm không, tánh không, như thể nghệ sĩ vẽ cái "tâm không trụ" của chính mình, tạo ra một cõi thiền riêng Lê Bá Đảng. Ở đây ông đã bỏ rơi hết cả: bỏ đường nét, bỏ màu sắc, chỉ giữ lại một màu xanh nguyên thủy của vũ trụ Tánh không.


Có thể bảo Lê Bá Đảng vẽ cái hư vô trong con người. Nhưng vẽ gì thì vẽ, Lê Bá Đảng cũng chỉ vẽ chính mình, vẽ cái trụ xứ của mình. Một trụ xứ không biết đến từ đâu, trở về đâu. Phần động, Lê Bá Đảng đã thực hiện với ngựa, với dục. Và phần tĩnh, được ông tạo tác trong những mặt người thiền họa.


Với thiền họa, trụ xứ của Lê Bá Đảng biến đổi khôn lường. Ông vẽ cái tâm, cái tĩnh, trong một thể động không ngừng. Tâm của mỗi vị bồ tát được họa sĩ trình bày trong một vòng tròn xác định như trụ xứ của bồ tát: Tôi luẩn quẩn giữa vòng tròn mà đường kính là chiều dài sợi dây buộc vào hai cực, một vòng tròn không giới hạn, đường kính vô cực, đó là chỗ "tôi-bồ tát" cư ngụ: vòng tâm bất định.
Mỗi khuôn mặt "người-bồ tát-tôi" mà họa sĩ vung lên là một vòng tròn có chu vi khép kín nhưng lại mở rộng đến vô cùng, dấy lên từ một cõi thiên thanh bất tận như trái đất hành tinh xanh trong vũ trụ đạo.
Mỗi nét mặt là một cõi tâm, một cõi tâm vô tâm, như đại dương thăm thẳm của lòng người, thấu những khổ đau, bất hạnh bao la trong trời đất, hoặc dấy lên niềm hạnh phúc của một cực lạc xa xăm.


Với Thiền Họa, mà họa sĩ thường nói, tôi không thiền, không Phật, Lê Bá Đảng muốn tạo một không gian vật chất tan biến trong tinh thần, và tinh thần hòa đạm trong máu xương của vật chất, và để trả lời câu hỏi "Tôi ở đâu", họa sĩ bảo: Không vẽ nổi, qua những bức trụ xứ bồ tát tôi, không thiền, không Phật, nói như Mai Thảo:tôi không.


 


Mặc áo cho cây
 


Làm thế nào đem nghệ thuật vào thiên nhiên? Làm thế nào phối hợp tác phẩm với gió mưa trời đất, phong tục, văn hóa, danh lam thắng cảnh, núi sông, lịch sử, đớn đau hạnh phúc của con người? Đó là một dự trình từ lâu ấp ủ trong tâm hồn Lê Bá Đảng.
Trước tiên, trong "phòng thí nghiệm", ông tìm cách phối hợp nhiếp ảnh và tạo hình, tạo cho ảnh tính "thật" của chất liệu, tính biến thiên của sáng tác, đồng thời thổi hồn vào những bức ảnh -mới chỉ là chụp ngoại cảnh- chưa có phần linh, phần nội, phần sâu của tâm hồn: ông vẽ trên ảnh để tạo phần tâm linh cho ảnh. Nhưng tâm linh nào? -Tâm linh đất trời, tâm linh Việt hòa cùng tâm linh họa sĩ. Lê Bá Đảng thường nói đến "máu thắm, chỉ hồng", ông đã thực hiện "máu thắm, chỉ hồng" trên những bức khắc-họa, và bây giờ ông đem "máu thắm, chỉ hồng" xây dựng một nghệ thuật mới: tranh ảnh giao thoa. Sau cùng, ông áp dụng những "thử nghiệm nghệ thuật trong phòng thí nghiệm" ấy vào rừng, "mặc"cho cây, đem lên núi phóng túng hình hài, đem ra sông giăng mắc giữa dòng...
Xưa, Quế kia đứng cô đơn giữa rừng. Nay, Quế mang trong tâm, linh hồn Huyền Trân. Quế sẽ biết nói lên lòng hiểm độc, kỳ thị của con người trong câu ca dao Tiếc thay cây quế giữa rừng, để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo, Quế khóc Huyền Trân thêm một lần nữa.


Hai cây phong sừng sững lặng câm trong vườn ư? Rồi chúng sẽ trò chuyện với nhau, giăng mắc nhau bằng trăm sợi tình không gỡ được.
Cây đại thụ bên hồ nước kia sống đã trăm năm, đã mục kích bao nhiêu tang thương biến đổi, bao nhiêu kỳ tích đớn đau mà không nói được, từ nay nó sẽ góp mặt vào những thăng trầm của đời người, kể chuyện quá khứ, dự phóng tương lai....

 


Mặc áo cho cây là một cách sáng tạo mới, trong đó người nghệ sĩ có thể biến thiên đến vô cùng mỗi khi họ đứng trước một thực thể bất kỳ nào đó của thiên nhiên. Người nghệ sĩ có thể tạo linh hồn cho cây cỏ, bằng chất liệu, bằng tưởng tượng, bằng thi ca, bằng tất cả những nguồn văn hoá dân gian, dân tộc . Từ nay, chất liệu của nghệ thuật tạo hình, không chỉ giới hạn trong bút và mầu, mà nó còn là tất cả những chất liệu vật chất và tinh thần mà người nghệ sĩ sở hữu; nó là nguồn "máu thắm, chỉ hồng" nuôi sống con người và tạo nên những nền văn hóa khác nhau. Chính cái chất liệu tinh thần này, Lê Bá Đảng muốn đem vào, muốn biểu dương trong thiên nhiên với phong cách nghệ thuật mới: Mặc áo cho cây.
 

Thụy Khuê

Chú thích
Tranh Lê Bá Đảng trên mạng lưới:
http://lebadang.free.fr
http://nghethuat.free.fr

© Copyright Thuy Khue 2003